19/05/2026

Diễn đàn vật lý kỹ thuật

Please or Register to create posts and topics.

NHỮNG MẬT MÃ BÍ ẨN CHƯA ĐƯỢC GIẢI ĐÁP TRÊN THẾ GIỚI

Nhiều thông điệp mã hóa vẫn chưa được giải thích hoàn toàn sau hàng chục năm tồn tại.

1. Bản thảo Voynich

Bản thảo Voynich được coi là "bản thảo bí ẩn nhất thế giới". Tên bản thảo được đặt theo nhà buôn sách cổ Wilfrid M. Voynich, người đã mua nó năm 1912.

Bản thảo Voynich
Ảnh: Paris Review.

Bản thảo dày 240 trang, viết bằng một ngôn ngữ bí ẩn cùng những biểu đồ và hình thực vật kỳ lạ. Theo giám định, bản thảo này ra đời khoảng những năm 1404–1438, chưa rõ tác giả. Một số ý kiến cho rằng đây là cuốn dược điển, số khác lại nghĩ là một loại sách cho các nhà giả kim, thậm chí sách từ ngoài hành tinh.

2. Mật mã Kryptos

Mật mã Kryptos là bức điêu khắc do nhà điêu khắc Jim Sanborn thiết kế và được đặt ngay bên ngoài trụ sở CIA tại Virginia, Mỹ. Mật mã Kryptos khó đến nỗi CIA cũng chưa thể giải hết.

Mật mã Kryptos
Ảnh: Wired.

Bức điêu khắc gồm 4 phần và người ta mới chỉ giải được 3 phần. Năm 2006, Sanborn tiết lộ về một chữ bị thiếu trong phần hai. Năm 2010, ông lại gợi ý thêm: đoạn chữ NYPVTT trong phần 4 giải mã là BERLIN.

3. Mật mã Beale

Mật mã Beale gồm 3 bảng mã dẫn đến nơi chôn giấu một trong những kho báu vĩ đại nhất lịch sử nước Mỹ với hàng nghìn kg vàng, bạc và đá quý trị giá khoảng 43 triệu USD.

Mật mã Kryptos Ảnh: Mind Blowing Facts.

Theo lời kể, một người đàn ông tên là Thomas Jefferson Beale đã tìm ra kho báu này năm 1818 ở Colorado, Mỹ, sau đó chuyển kho báu sang địa điểm mới và tạo ra 3 bảng mã. Bảng mã thứ hai đã được giải, tiết lộ kho báu được chôn ở Bedford, Virginia. Tuy nhiên, địa điểm chính xác của kho báu vẫn còn là một bí ẩn.

4. Đĩa Phaistos

Đĩa Phaistos do nhà khảo cổ Luigi Pernier tìm thấy trong cung điện Phaistos trên đảo Crete, Hy Lạp năm 1908.

Mật mã Kryptos Ảnh: Ancient History Encyclopedia.

Chiếc đĩa làm bằng đất sét nung với những biểu tượng lạ có thể là một dạng chữ tượng hình chưa ai biết. Các nhà nghiên cứu cho rằng đĩa Phaistos có niên đại khoảng 2.000 năm trước Công nguyên.

5. Chữ khắc Shugborough

Chữ khắc Shugborough là dòng chữ lạ trên bức tượng đài từ thế kỷ 18 ở Staffordshire, Anh. Nhìn từ xa, tượng đài chỉ giống bản điêu khắc bức tranh "Những người chăn cừu ở Arcadia" nổi tiếng của Nicolas Poussin. Tuy nhiên, bên dưới bức khắc lại là một dòng chữ bí ẩn suốt 250 năm qua chưa có lời giải: DOUOSVAVVM.

Chữ khắc ShugboroughẢnh:Baldhiker.

Một số ý kiến cho rằng dòng chữ là manh mối về vị trí của Chén Thánh do các Hiệp sĩ dòng Đền để lại. Nhiều bộ óc thiên tài của nhân loại, trong đó có Charles Dickens và Charles Darwin, từng cố gắng giải mã dòng chữ này nhưng thất bại.

6. Vụ án Tamam Shud

Vụ án Tamam Shud được coi là một trong những bí ẩn lớn nhất của Australia. Năm 1948, thi thể một người đàn ông được phát hiện trên bãi biển Somerton thuộc Adelaide, Australia. Người ta còn tìm thấy trong chiếc túi may giấu trong quần nạn nhân mảnh giấy nhỏ ghi "Tamam Shud".

Vụ án Tamam Shud Ảnh: Cipher Mysteries.

Cụm từ này nghĩa là "kết thúc" hoặc "hoàn thành", xuất hiện ở trang cuối tập thơ "The Rubaiyat" của Omar Khayyam. Về sau, người ta còn tìm thấy một bản tập thơ của Khayyam chứa đoạn mã nguệch ngoạc được cho là di bút của nạn nhân. Tuy nhiên, không ai thực sự hiểu rõ ý nghĩa của những dòng chữ này và danh tính nạn nhân đến nay vẫn còn là điều bí ẩn.

7. Những lá thư Zodiac

Những lá thư Zodiac gồm 4 thông điệp được mã hóa mà người ta cho là do Zodiac, tên giết người hàng loạt từng khiến dân chúng vùng Vịnh San Francisco, Mỹ khiếp sợ những năm 1960–1970, viết.

Những lá thư Zodiac Ảnh: Historic Mysteries.

Những lá thư có thể là một cách chế giễu các nhà báo và cảnh sát của tên sát nhân. Hiện mới chỉ có một trong số 4 thông điệp được giải mã và danh tính của kẻ sát nhân Zodiac vẫn còn là một bí ẩn.

8. Đài tưởng niệm bằng đá Georgia Guidestones

Đài tưởng niệm bằng đá Georgia Guidestones, còn gọi là "Stonehenge Mỹ", được dựng ở Elbert, Georgia năm 1979. Các tảng đá khắc 10 "điều răn dạy mới" bằng 8 ngôn ngữ gồm Anh, Tây Ban Nha, Swahili, Hindi, Do Thái, Arab, Trung Quốc và Nga.

Đài tưởng niệm bằng đá Georgia Guidestones Ảnh: Julia World.

Chúng cũng được sắp xếp theo một số đặc điểm thiên văn nhất định. Hiện vẫn chưa ai tìm ra mục đích và nguồn gốc của đài tưởng niệm này.

9.Rongorongo

Rongorongo là một chuỗi ký tự chạm khắc được phát hiện trên nhiều đồ tạo tác ở Đảo Phục Sinh. Nhiều người tin rằng chúng tượng trưng cho một hệ chữ viết đã thất truyền và có thể là một trong số ít những phát minh chữ viết độc lập trong lịch sử nhân loại.

Đài tưởng niệm bằng đá Georgia Guidestones Ảnh: Alex Guerra Terra.

Những ký tự này đến nay vẫn chưa thể giải mã. Một số ý kiến cho rằng chúng có thể là manh mối cho sự sụp đổ kỳ lạ của nền văn minh trên Đảo Phục Sinh.

10. Mật mã của Olivier Levasseur

Olivier Levasseur là một học giả ở thế kỷ 18 và là một sĩ quan hải quân có niềm yêu thích đối với những biểu tượng ma thuật. Sau thời gian tham gia vào Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha, ông ta đã đảo ngũ và bắt đầu sự nghiệp cướp biển của mình, cướp phá nhiều con tàu trong suốt 14 năm.

Cuối cùng, khi bị bắt và chuẩn bị treo cổ vào ngày 7 tháng 7 năm 1730 bởi người Pháp, Levasseur đã tung một mật mã do chính mình tạo ra vào đám đông và kêu lên: "Hãy tìm kho báu của ta nếu các ngươi có thể hiểu được nó!".

Mật mã này là một văn bản có 17 dòng với những ký hiệu không xác định, và nó chưa bao giờ được giải mã hoàn toàn mặc dù đã có nhiều cố gắng, và từ những điều ít ỏi chúng ta biết, nó được cho là dẫn đến một kho báu hiện trị giá 100 triệu bảng Anh được chôn cất trên một hòn đảo ở Ấn Độ Dương.

11. Tập lệnh Indus

Tập lệnh Indus

Còn được gọi là "Harappan Script", chữ viết này có từ năm 2.700 - 1.900 trước Công nguyên, và được phát hiện cùng với hơn 4.000 đồ vật được khắc trong Thung lũng Indus. Một số đồ vật này đã đến tận vùng Lưỡng Hà do quan hệ thương mại giữa hai nền văn minh. Mỗi hiện vật, trung bình sẽ chứa một tập lệnh được tạo từ năm ký hiệu, và tập lệnh dài nhất chứa 26 ký hiệu. Mặc dù có những tranh cãi về việc liệu chữ viết có được kết nối với hệ thống chữ Brāhmī hay với các ngôn ngữ Dravidian hay không thì cho tới nay, nó vẫn chưa được giải mã.

12. Mật mã D'Agapeyeff

Được tạo ra bởi nhà mật mã học người Anh gốc Nga - Alexander D'Agapeyeff vào năm 1939, mật mã này được xuất bản dưới dạng "challenge cipher" ở cuối ấn bản đầu tiên của cuốn sách của ông - Codes and Ciphers.

“75628 28591 62916 48164 91748 58464 74748 28483 81638 18174

74826 26475 83828 49175 74658 37575 75936 36565 81638 17585

75756 46282 92857 46382 75748 38165 81848 56485 64858 56382

72628 36281 81728 16463 75828 16483 63828 58163 63630 47481

91918 46385 84656 48565 62946 26285 91859 17491 72756 46575

71658 36264 74818 28462 82649 18193 65626 48484 91838 57491

81657 27483 83858 28364 62726 26562 83759 27263

82827 27283 82858 47582 81837 28462 82837 58164 75748 58162 92000”.

Mật mã bao gồm 395 chữ số được sắp xếp theo nhóm năm chữ số và không được xuất bản trong bất kỳ ấn bản tiếp theo nào của cuốn sách. Cho đến nay, nó vẫn chưa được giải đáp, và thậm chí D'Agapeyeff đã tuyên bố rằng ông ấy đã quên mất cách đã mã hóa nó.

13. Mật mã Dorabella

Mật mã Dorabella

Mật mã Dorabella là một bức thư kèm theo của nhà soạn nhạc người Anh - Edward Elgar gửi cho người bạn Dora Penny của ông, sau đó là một bức thư khác vào tháng 7 năm 1897.

Mật mã chứa ba dòng với 87 ký tự được tạo từ 24 ký hiệu trông giống như hai đến ba hình bán nguyệt được sắp xếp theo tám hướng khác nhau. Dora tuyên bố ông chưa bao giờ có thể giải mã được bức thư này, và cho đến ngày nay nội dung của nó vẫn là một bí ẩn.

14. Rohonc Codex

Mật mã Rohonc Codex

Codex được tìm thấy ở thành phố Rohonc ở miền Tây Hungary vào đầu thế kỷ 19, là một bản thảo có minh họa của một tác giả vô danh, nó chứa những văn bản được viết bằng một ngôn ngữ và chữ viết không xác định.

Bản thảo gồm 448 trang, và mỗi trang bao gồm từ 9 đến 14 hàng ký hiệu, điều này khiến người ta tin rằng nó có thể là giáo trình hoặc nhật ký.

Bất chấp nhiều cuộc điều tra của các học giả, cho tới nay vẫn chưa có sự hiểu biết chính xác về ý nghĩa thực sự của văn bản hoặc 87 hình ảnh minh họa trong cuốn bản thảo này.

Vũ trụ bao la đầy huyền bí luôn kích thích trí tưởng tượng vô cùng vô tận của con người. Hàng nghìn năm nay, con người vẫn miệt mài đi tìm câu trả lời cho những nghi vấn về vũ trụ. Nhưng đến nay, vũ trụ vẫn giấu kín trong mình vô số những bí mật, những câu đố thách thức nền khoa học nhân loại. Trái Đất vốn là cái nôi để sinh tồn, là căn nhà bao bọc che chở cho nhân loại, bất kỳ bụi cây, ngọn cỏ, dòng sông, ngọn núi nào trên Trái Đất đều gắn liền với cuộc sống của chúng ta.

Quote from Nguyễn Hoàng Đại Phước on 14/10/2021, 23:30

Nhiều thông điệp mã hóa vẫn chưa được giải thích hoàn toàn sau hàng chục năm tồn tại.

1. Bản thảo Voynich

Bản thảo Voynich được coi là "bản thảo bí ẩn nhất thế giới". Tên bản thảo được đặt theo nhà buôn sách cổ Wilfrid M. Voynich, người đã mua nó năm 1912.

Bản thảo Voynich
Ảnh: Paris Review.

Bản thảo dày 240 trang, viết bằng một ngôn ngữ bí ẩn cùng những biểu đồ và hình thực vật kỳ lạ. Theo giám định, bản thảo này ra đời khoảng những năm 1404–1438, chưa rõ tác giả. Một số ý kiến cho rằng đây là cuốn dược điển, số khác lại nghĩ là một loại sách cho các nhà giả kim, thậm chí sách từ ngoài hành tinh.

2. Mật mã Kryptos

Mật mã Kryptos là bức điêu khắc do nhà điêu khắc Jim Sanborn thiết kế và được đặt ngay bên ngoài trụ sở CIA tại Virginia, Mỹ. Mật mã Kryptos khó đến nỗi CIA cũng chưa thể giải hết.

Mật mã Kryptos
Ảnh: Wired.

Bức điêu khắc gồm 4 phần và người ta mới chỉ giải được 3 phần. Năm 2006, Sanborn tiết lộ về một chữ bị thiếu trong phần hai. Năm 2010, ông lại gợi ý thêm: đoạn chữ NYPVTT trong phần 4 giải mã là BERLIN.

3. Mật mã Beale

Mật mã Beale gồm 3 bảng mã dẫn đến nơi chôn giấu một trong những kho báu vĩ đại nhất lịch sử nước Mỹ với hàng nghìn kg vàng, bạc và đá quý trị giá khoảng 43 triệu USD.

Mật mã Kryptos Ảnh: Mind Blowing Facts.

Theo lời kể, một người đàn ông tên là Thomas Jefferson Beale đã tìm ra kho báu này năm 1818 ở Colorado, Mỹ, sau đó chuyển kho báu sang địa điểm mới và tạo ra 3 bảng mã. Bảng mã thứ hai đã được giải, tiết lộ kho báu được chôn ở Bedford, Virginia. Tuy nhiên, địa điểm chính xác của kho báu vẫn còn là một bí ẩn.

4. Đĩa Phaistos

Đĩa Phaistos do nhà khảo cổ Luigi Pernier tìm thấy trong cung điện Phaistos trên đảo Crete, Hy Lạp năm 1908.

Mật mã Kryptos Ảnh: Ancient History Encyclopedia.

Chiếc đĩa làm bằng đất sét nung với những biểu tượng lạ có thể là một dạng chữ tượng hình chưa ai biết. Các nhà nghiên cứu cho rằng đĩa Phaistos có niên đại khoảng 2.000 năm trước Công nguyên.

5. Chữ khắc Shugborough

Chữ khắc Shugborough là dòng chữ lạ trên bức tượng đài từ thế kỷ 18 ở Staffordshire, Anh. Nhìn từ xa, tượng đài chỉ giống bản điêu khắc bức tranh "Những người chăn cừu ở Arcadia" nổi tiếng của Nicolas Poussin. Tuy nhiên, bên dưới bức khắc lại là một dòng chữ bí ẩn suốt 250 năm qua chưa có lời giải: DOUOSVAVVM.

Chữ khắc ShugboroughẢnh:Baldhiker.

Một số ý kiến cho rằng dòng chữ là manh mối về vị trí của Chén Thánh do các Hiệp sĩ dòng Đền để lại. Nhiều bộ óc thiên tài của nhân loại, trong đó có Charles Dickens và Charles Darwin, từng cố gắng giải mã dòng chữ này nhưng thất bại.

6. Vụ án Tamam Shud

Vụ án Tamam Shud được coi là một trong những bí ẩn lớn nhất của Australia. Năm 1948, thi thể một người đàn ông được phát hiện trên bãi biển Somerton thuộc Adelaide, Australia. Người ta còn tìm thấy trong chiếc túi may giấu trong quần nạn nhân mảnh giấy nhỏ ghi "Tamam Shud".

Vụ án Tamam Shud Ảnh: Cipher Mysteries.

Cụm từ này nghĩa là "kết thúc" hoặc "hoàn thành", xuất hiện ở trang cuối tập thơ "The Rubaiyat" của Omar Khayyam. Về sau, người ta còn tìm thấy một bản tập thơ của Khayyam chứa đoạn mã nguệch ngoạc được cho là di bút của nạn nhân. Tuy nhiên, không ai thực sự hiểu rõ ý nghĩa của những dòng chữ này và danh tính nạn nhân đến nay vẫn còn là điều bí ẩn.

7. Những lá thư Zodiac

Những lá thư Zodiac gồm 4 thông điệp được mã hóa mà người ta cho là do Zodiac, tên giết người hàng loạt từng khiến dân chúng vùng Vịnh San Francisco, Mỹ khiếp sợ những năm 1960–1970, viết.

Những lá thư Zodiac Ảnh: Historic Mysteries.

Những lá thư có thể là một cách chế giễu các nhà báo và cảnh sát của tên sát nhân. Hiện mới chỉ có một trong số 4 thông điệp được giải mã và danh tính của kẻ sát nhân Zodiac vẫn còn là một bí ẩn.

8. Đài tưởng niệm bằng đá Georgia Guidestones

Đài tưởng niệm bằng đá Georgia Guidestones, còn gọi là "Stonehenge Mỹ", được dựng ở Elbert, Georgia năm 1979. Các tảng đá khắc 10 "điều răn dạy mới" bằng 8 ngôn ngữ gồm Anh, Tây Ban Nha, Swahili, Hindi, Do Thái, Arab, Trung Quốc và Nga.

Đài tưởng niệm bằng đá Georgia Guidestones Ảnh: Julia World.

Chúng cũng được sắp xếp theo một số đặc điểm thiên văn nhất định. Hiện vẫn chưa ai tìm ra mục đích và nguồn gốc của đài tưởng niệm này.

9.Rongorongo

Rongorongo là một chuỗi ký tự chạm khắc được phát hiện trên nhiều đồ tạo tác ở Đảo Phục Sinh. Nhiều người tin rằng chúng tượng trưng cho một hệ chữ viết đã thất truyền và có thể là một trong số ít những phát minh chữ viết độc lập trong lịch sử nhân loại.

Đài tưởng niệm bằng đá Georgia Guidestones Ảnh: Alex Guerra Terra.

Những ký tự này đến nay vẫn chưa thể giải mã. Một số ý kiến cho rằng chúng có thể là manh mối cho sự sụp đổ kỳ lạ của nền văn minh trên Đảo Phục Sinh.

10. Mật mã của Olivier Levasseur

Olivier Levasseur là một học giả ở thế kỷ 18 và là một sĩ quan hải quân có niềm yêu thích đối với những biểu tượng ma thuật. Sau thời gian tham gia vào Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha, ông ta đã đảo ngũ và bắt đầu sự nghiệp cướp biển của mình, cướp phá nhiều con tàu trong suốt 14 năm.

Cuối cùng, khi bị bắt và chuẩn bị treo cổ vào ngày 7 tháng 7 năm 1730 bởi người Pháp, Levasseur đã tung một mật mã do chính mình tạo ra vào đám đông và kêu lên: "Hãy tìm kho báu của ta nếu các ngươi có thể hiểu được nó!".

Mật mã này là một văn bản có 17 dòng với những ký hiệu không xác định, và nó chưa bao giờ được giải mã hoàn toàn mặc dù đã có nhiều cố gắng, và từ những điều ít ỏi chúng ta biết, nó được cho là dẫn đến một kho báu hiện trị giá 100 triệu bảng Anh được chôn cất trên một hòn đảo ở Ấn Độ Dương.

11. Tập lệnh Indus

Tập lệnh Indus

Còn được gọi là "Harappan Script", chữ viết này có từ năm 2.700 - 1.900 trước Công nguyên, và được phát hiện cùng với hơn 4.000 đồ vật được khắc trong Thung lũng Indus. Một số đồ vật này đã đến tận vùng Lưỡng Hà do quan hệ thương mại giữa hai nền văn minh. Mỗi hiện vật, trung bình sẽ chứa một tập lệnh được tạo từ năm ký hiệu, và tập lệnh dài nhất chứa 26 ký hiệu. Mặc dù có những tranh cãi về việc liệu chữ viết có được kết nối với hệ thống chữ Brāhmī hay với các ngôn ngữ Dravidian hay không thì cho tới nay, nó vẫn chưa được giải mã.

12. Mật mã D'Agapeyeff

Được tạo ra bởi nhà mật mã học người Anh gốc Nga - Alexander D'Agapeyeff vào năm 1939, mật mã này được xuất bản dưới dạng "challenge cipher" ở cuối ấn bản đầu tiên của cuốn sách của ông - Codes and Ciphers.

“75628 28591 62916 48164 91748 58464 74748 28483 81638 18174

74826 26475 83828 49175 74658 37575 75936 36565 81638 17585

75756 46282 92857 46382 75748 38165 81848 56485 64858 56382

72628 36281 81728 16463 75828 16483 63828 58163 63630 47481

91918 46385 84656 48565 62946 26285 91859 17491 72756 46575

71658 36264 74818 28462 82649 18193 65626 48484 91838 57491

81657 27483 83858 28364 62726 26562 83759 27263

82827 27283 82858 47582 81837 28462 82837 58164 75748 58162 92000”.

Mật mã bao gồm 395 chữ số được sắp xếp theo nhóm năm chữ số và không được xuất bản trong bất kỳ ấn bản tiếp theo nào của cuốn sách. Cho đến nay, nó vẫn chưa được giải đáp, và thậm chí D'Agapeyeff đã tuyên bố rằng ông ấy đã quên mất cách đã mã hóa nó.

13. Mật mã Dorabella

Mật mã Dorabella

Mật mã Dorabella là một bức thư kèm theo của nhà soạn nhạc người Anh - Edward Elgar gửi cho người bạn Dora Penny của ông, sau đó là một bức thư khác vào tháng 7 năm 1897.

Mật mã chứa ba dòng với 87 ký tự được tạo từ 24 ký hiệu trông giống như hai đến ba hình bán nguyệt được sắp xếp theo tám hướng khác nhau. Dora tuyên bố ông chưa bao giờ có thể giải mã được bức thư này, và cho đến ngày nay nội dung của nó vẫn là một bí ẩn.

14. Rohonc Codex

Mật mã Rohonc Codex

Codex được tìm thấy ở thành phố Rohonc ở miền Tây Hungary vào đầu thế kỷ 19, là một bản thảo có minh họa của một tác giả vô danh, nó chứa những văn bản được viết bằng một ngôn ngữ và chữ viết không xác định.

Bản thảo gồm 448 trang, và mỗi trang bao gồm từ 9 đến 14 hàng ký hiệu, điều này khiến người ta tin rằng nó có thể là giáo trình hoặc nhật ký.

Bất chấp nhiều cuộc điều tra của các học giả, cho tới nay vẫn chưa có sự hiểu biết chính xác về ý nghĩa thực sự của văn bản hoặc 87 hình ảnh minh họa trong cuốn bản thảo này.

Bạn có thể giới thiệu thêm những bí ẩn ở Việt Nam không. Mình cảm ơn.

Bùi Tuấn has reacted to this post.
Bùi Tuấn
Top 10 vụ mất tích bí ẩn nhất tại vùng Tam Giác Quỷ Bermuda khét tiếng
1. Thủy thủ giỏi nhất thế giới biến mất giữa đại dương
2. Vùng biển có thể khiến con người tự hủy
3. Máy bay chở khách cỡ lớn tan biến vào hư vô
4. Tan biến lần thứ hai thì không còn là trùng hợp
5. Niềm tự hào của Hải Quân Hoa Kỳ cũng không là ngoại lệ
6. Dù có nhân chứng vẫn không thể tìm được xác máy bay
7. Chuyến bay mất tích giữa không trung
8. Dù có là Nữ Hoàng nhưng vẫn không thoát khỏi số phận
9. Máy bay hư thì không nên cất cánh
10. Dù có là máy bay chiến đấu thì cũng phải đầu hàng
Bùi Tuấn has reacted to this post.
Bùi Tuấn

bài viết thú vị quá

Kryptos là quần thể điêu khắc do nghệ sĩ người Mỹ Jim Sanborn chế tác, tọa lạc tại khuôn viên của Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA) ở Langley, Virginia. Kể từ khi được khai trương vào ngày 3 tháng 11 năm 1990 thì đã có nhiều suy đoán về ý nghĩa của bốn thông điệp được mã hóa ẩn chứa bên trong nó. Trong số bốn thông điệp này thì ba thông điệp đầu tiên đã được giải, còn thông điệp thứ tư thì vẫn là một trong những mật mã chưa được giải mã nổi tiếng nhất trên thế giới. Tác phẩm điêu khắc này liên tục lôi cuốn sự quan tâm của các nhà phân tích mật mã, cả nghiệp dư lẫn chuyên nghiệp, vào việc nỗ lực giải mã đoạn thông điệp thứ tư này. Nghệ sĩ Sanborn cho đến nay đã đưa ra bốn manh mối cho đoạn thông điệp đấy.

Thông điệp được mã hóa
Văn bản mật mã ở phía bên trái của bức bình phong điêu khắc đấy (khi nhìn từ giữa sân trong) tại quần thể chính thì có tổng cộng 869 ký tự: 865 chữ cái cùng với 4 dấu hỏi.

Tuy nhiên, vào tháng 4 năm 2006, Sanborn có tung ra thông tin phát biểu rằng một kí tự đã bị lược bỏ khỏi phía bên trái của Kryptos "vì lý do thẩm mỹ, để giữ cho tác phẩm điêu khắc mang tính cân bằng về thị giác".

Ngoài ra trong văn bản rõ (plaintext) của ba đoạn thông điệp đầu tiên được giải mã thì còn có ba từ bị sai chính tả mà Sanborn đã nói là do cố ý,[cần dẫn nguồn] và ba chữ cái (Y, A và R) ở gần phần mở đầu của tấm đồng phía dưới bên trái thì là những ký tự duy nhất được khoét ở dạng superscript trên tác phẩm điêu khắc này.

Phía bên phải của tác phẩm điêu khắc này thì chứa một bảng mã hóa Vigenère có khóa, gồm 867 chữ cái.

Một trong các dòng của bảng Vigenère đấy có thêm một ký tự (L) dôi ra ở cuối so với các dòng khác. Bauer, Link và Molle[5] cho rằng đây có thể là tham chiếu đến mật mã Hill với vai trò là phương pháp mã hóa cho đoạn thứ tư của tác phẩm điêu khắc này. Tuy nhiên, Sanborn đã lược bỏ ký tự dôi này trong các mô hình Kryptos nhỏ mà ông có bán, cho nên hẳn là không cần phải coi nói có tầm quan trọng gì.

Lời giải của đoạn văn thứ 1
Phương pháp: Vigenère

Từ khóa: Kryptos, Palimpsest

BETWEEN SUBTLE SHADING AND THE ABSENCE OF LIGHT LIES THE NUANCE OF IQLUSION

Tạm dịch:

NƠI ĐÓ, GIỮA SỰ CHE KHUẤT MỜ ẢO VÀ SỰ THIẾU VẮNG ÁNH SÁNG (LÀ) SẮC THÁI ẢO ẢNH

Iqlusion là một lỗi chính tả có chủ ý của ảo giác (illusion)

Lời giải của đoạn văn thứ 2
Phương pháp: Vigenère

Từ khóa: Kryptos, Abscissa (hoành độ)

IT WAS TOTALLY INVISIBLE HOWS THAT POSSIBLE ? THEY USED THE EARTHS MAGNETIC FIELD X THE INFORMATION WAS GATHERED AND TRANSMITTED UNDERGRUUND TO AN UNKNOWN LOCATION X DOES LANGLEY KNOW ABOUT THIS ? THEY SHOULD ITS BURIED OUT THERE SOMEWHERE X WHO KNOWS THE EXACT LOCATION ? ONLY WW THIS WAS HIS LAST MESSAGE X THIRTY EIGHT DEGREES FIFTY SEVEN MINUTES SIX POINT FIVE SECONDS NORTH SEVENTY SEVEN DEGREES EIGHT MINUTES FORTY FOUR SECONDS WEST X LAYER TWO

Tạm dịch:

HOÀN TOÀN KHÔNG THỂ THẤY ĐƯỢC ĐIỀU ĐÓ CÓ THỂ DIỄN RA NHƯ THẾ NÀO ? HỌ ĐÃ SỬ DỤNG TỪ TRƯỜNG TRÁI ĐẤT X THÔNG TIN ĐÃ ĐƯỢC THU THẬP VÀ ĐƯỢC TRUYỀN BÍ MẬT ĐẾN MỘT VỊ TRÍ CHƯA BIẾT X LIỆU LANGLEY CÓ BIẾT VỀ ĐIỀU NÀY ? HỌ NÊN (BIẾT) NÓ ĐƯỢC CHÔN NGOÀI KIA ĐÂU ĐÓ X AI BIẾT VỊ TRÍ CHÍNH XÁC ? CHỈ CÓ WW MÀ THÔI ĐÂY LÀ THÔNG ĐIỆP CUỐI CÙNG CỦA ÔNG X BA MUƠI TÁM ĐỘ NĂM MUƠI BẢY PHÚT SÁU PHẨY NĂM GIÂY BẮC BẢY MƯƠI BẢY ĐỘ TÁM PHÚT BỐN MUƠI BỐN GIÂY TÂY X LỚP THỨ HAI

Vào ngày 19 tháng 4 năm 2006, Sanborn liên hệ với một cộng đồng trực tuyến dành riêng cho câu đố Kryptos để thông báo với họ rằng lời giải được chấp nhận cho đoạn 2 là không chính xác. Ông nói rằng bản thân đã mắc lỗi trong tác phẩm điêu khắc khi bỏ qua một dấu "X" được sử dụng để phân tách các câu, vì lý do thẩm mỹ và văn bản được giải mã kết thúc "...FOUR SECONDS WEST ID BY ROWS" thực sự nên là "...FOUR SECONDS WEST X LAYER TWO".

Phương pháp: Chuyển vị

SLOWLY DESPARATLY SLOWLY THE REMAINS OF PASSAGE DEBRIS THAT ENCUMBERED THE LOWER PART OF THE DOORWAY WAS REMOVED WITH TREMBLING HANDS I MADE A TINY BREACH IN THE UPPER LEFT HAND CORNER AND THEN WIDENING THE HOLE A LITTLE I INSERTED THE CANDLE AND PEERED IN THE HOT AIR ESCAPING FROM THE CHAMBER CAUSED THE FLAME TO FLICKER BUT PRESENTLY DETAILS OF THE ROOM WITHIN EMERGED FROM THE MIST X CAN YOU SEE ANYTHING Q ?

Tạm dịch:

CHẬM RÃI CHẬM RÃI MỘT CÁCH LIỀU LĨNH NHỮNG MẢNH VỠ HÀNH LANG CÒN LẠI NẰM NGỔN NGANG TRÊN PHẦN THẤP HƠN Ở CỬA VỚI ĐÔI BÀN TAY RUN RẨY TÔI ĐỤC MỘT LỖ NHỎ Ở GÓC TRÊN BÊN TRÁI VÀ SAU ĐÓ MỞ RỘNG LỖ MỘT CHÚT TÔI CHO CÂY NẾN VÀO VÀ CHĂM CHÚ NHÌN QUA LỚP KHÔNG KHÍ NÓNG THOÁT KHỎI CĂN PHÒNG KHIẾN NGỌN LỬA CHÁY BẬP BÙNG NHƯNG CHẲNG MẤY CHỐC MỌI CHI TIẾT TRONG CĂN PHÒNG HIỆN RA SAU MÀN SƯƠNG X BẠN CÓ THẤY BẤT CỨ ĐIỀU GÌ KHÔNG Q ?

Đây là trích dẫn được diễn giải từ lời kể của Howard Carter về việc khai mở lăng mộ Tutankhamun vào ngày 26 tháng 11 năm 1922, như được mô tả trong cuốn sách The Tomb of Tutankhamun năm 1923 của ông. Câu hỏi kết đoạn được hỏi bởi Lãnh chúa Carnarvon, mà Carter (trong cuốn sách) đã trả lời một câu nổi tiếng là "những điều tuyệt vời" ("wonderful things"). Tuy nhiên, vào ngày 26 tháng 11 năm 1922, trong ghi chú hiện trường, câu trả lời của ông là, "Vâng, thật tuyệt vời" ("Yes, it is wonderful").

Các manh mối cho đoạn văn thứ 4
Khi nhận xét vào năm 2006 về lỗi của mình trong đoạn văn thứ 2, Sanborn nói rằng câu trả lời cho ba đoạn đầu tiên chứa manh mối cho đoạn thứ tư.[21] Vào tháng 11 năm 2010, Sanborn đưa ra một manh mối, công khai nói rằng "NYPVTT", chữ cái thứ 64–⁠69 trong đoạn bốn, trở thành "BERLIN" sau khi giải mã.[22][23]

Sanborn đã cho The New York Times một manh mối khác vào tháng 11 năm 2014: các chữ cái "MZFPK", chữ cái thứ 70–⁠⁠74 trong đoạn bốn, trở thành "CLOCK" ("đồng hồ") sau khi giải mã.[24] Chữ cái thứ 74 là K trong cả bản thuần túy và bản mã, có nghĩa là một ký tự có thể mã hóa cho chính nó. Điều này có nghĩa là nó không có điểm yếu, nơi một ký tự không bao giờ có thể được mã hóa như chính nó, vốn được biết là vốn có trong cỗ máy Enigma của Đức.

Sanborn nói thêm rằng để giải đoạn thứ 4, "Tốt hơn hết bạn nên tìm hiểu kỹ về chiếc đồng hồ cụ thể đó," nhưng nói thêm, "Có một số chiếc đồng hồ thực sự thú vị ở Berlin."[25] Đồng hồ cụ thể được đề cập có lẽ là Đồng hồ Berlin, mặc dù Đồng hồ thế giới Alexanderplatz và Đồng hồ thời gian trôi là những ứng cử viên khác.

Trong một bài báo đăng ngày 29 tháng 1 năm 2020, bởi New York Times, Sanborn đã đưa ra một manh mối khác: tại vị trí 26-34, bản mã "QQPRNGKSS" là từ "NORTHEAST" ("phía Đông Bắc").[2]

Vào tháng 8 năm 2020, Sanborn tiết lộ rằng bốn chữ cái ở vị trí 22-25, bản mã "FLRV", trong bản thuần túy là "EAST" ("phía Đông"). Sanborn nhận xét rằng ông "đã tung ra bố cục này cho một số người sớm nhất là vào tháng Tư". Người đầu tiên được biết là đã chia sẻ gợi ý này rộng rãi hơn là Sukhwant Singh.

 

Bản thảo Voynich

Bản thảo Voynich là một cuốn sách chép tay có hình minh họa được viết bằng một hệ chữ viết chưa từng được ghi nhận trước đó trong lịch sử nhân loại. Bằng cách tính tuổi bằng cacbon phóng xạ, người ta xác định rằng bản thảo Voynich xuất hiện vào khoảng đầu thế kỷ 15 (giai đoạn 1404-1438) và có thể đã được viết ở miền Bắc nước Ý trong thời kỳ Phục hưng. Tên bản thảo được đặt theo tên của Wilfrid Voynich, một nhà buôn sách người Ba Lan đã mua bản thảo này vào năm 1912.Toàn bộ bản thảo được viết trên giấy da bê. Dù bị thiếu vài trang nhưng vẫn còn hơn 240 trang sách được lưu lại. Ngôn ngữ trong bản thảo được viết từ trái sang phải, hầu hết các trang đều có các hình minh hoạ hoặc biểu đồ. Một số trang là những tờ có thể gấp lại.

Bản thảo Voynich được nghiên cứu bởi rất nhiều nhà viết mật mã chuyên nghiệp và nghiệp dư, bao gồm cả những nhà giải mật mã Anh và Mỹ. Tuy vậy, cho tới nay vẫn chưa có ai thành công trong việc giải mã những thông điệp được ghi trong bản thảo, và nó trở thành bản thảo bí ẩn nhất trong lịch sử mật mã nhân loại. Những bí ẩn bao trùm quanh ý nghĩa và nguồn gốc của bản thảo Voynich đã khơi gợi và kích thích trí tò mò và tưởng tượng của nhiều người, biến nó thành chủ đề khai thác trong nhiều tiểu thuyết. Trong vòng 100 năm qua, không một giả thuyết nào được đưa ra về bản thảo này nhận được sự kiểm chứng từ giới nghiên cứu. Nhiều người còn cho rằng bản thảo Voynich đơn giản chỉ là một trò bịp bợm và hoàn toàn không mang ý nghĩa gì cả.

Bản thảo Voynich được Hans P. Krauss hiến tặng cho thư viện Beinecke của Đại học Yale vào năm 1969, mã tra cứu của bản thảo tại thư viện là MS 408. Người ta có thể truy cập miễn phí vào phiên bản scan ở độ phân giải cao của bản thảo trên website của thư viện.

Mật mã Beale

Mật mã của Beale (hay Những giấy tờ của Beale) là bộ ba mật mã, mà một trong số đó được cho là định vị địa điểm chôn cất một kho báu gồm vàng, bạc và đồ trang sức, có giá trị ước toán lên tới hơn 43 triệu đô la Mỹ vào thời điểm tháng 1 năm 2018. Chúng bao gồm ba bản mã, trong đó, bản mã đầu tiên (chưa được giải mã) mô tả vị trí kho báu, bản mã thứ hai (đã được giải mã) mô tả lượng kho báu, và bản mã thứ ba (chưa được giải mã) liệt kê tên chủ sở hữu kho báu cùng người thân của họ.

Câu chuyện về bộ ba mật mã này bắt nguồn từ cuốn sách nhỏ năm 1885, kể chi tiết về một kho báu được chôn cất tại một địa điểm bí mật ở quận Bedford, Virginia, bởi một người đàn ông tên Thomas J. Beale vào những năm 1820. Beale đã giao chiếc hộp chứa các tin nhắn mã hóa cho một chủ quán trọ địa phương tên là Robert Morriss rồi biến mất, và không bao giờ quay trở lại. Theo như câu chuyện, người chủ quán trọ mở chiếc hộp sau 23 năm và nhiều thập kỷ sau thì giao lại các bản mã cho một người bạn trước khi qua đời. Người bạn lại dành hai mươi năm tiếp theo để cố gắng thám mã các tin nhắn, nhưng chỉ có thể giải thành công một trong số chúng và biết được về chi tiết kho báu cũng như địa điểm chôn cất phỏng chừng. Người đàn ông giấu tên này đã xuất bản cả ba bản mã trong một cuốn sách nhỏ được rao bán vào những năm 1880.

Từ khi cuốn sách nhỏ kể trên ra đời, đã có một vài nỗ lực tìm cách giải nốt hai bản mã còn lại, hòng xác định chính xác vị trí kho báu, nhưng tất cả đều thất bại.

Có nhiều lập luận cho rằng toàn bộ câu chuyện chỉ là một trò lừa bịp, trong đó có bài báo "Một ý kiến bất đồng chính kiến" năm 1980 của nhà mật mã học Jim Gillogly, và một phân tích học thuật năm 1982 về Những giấy tờ của Beale cùng câu chuyện xoay quanh nó của Joe Nickell, sử dụng các ghi chép lịch sử để đưa ra nghi ngờ liên quan tới sự tồn tại của nhân vật Thomas J. Beale. Nickell đưa ra bằng chứng ngôn ngữ chứng minh rằng các tài liệu không thể được viết vào thời điểm mà người ta xác định (chẳng hạn như từ "stampeding" là một từ mãi về sau mới được dùng). Phân tích của ông còn cho thấy, Beale gần như chắc chắn là James B. Ward, người đã xuất bản cuốn sách nhỏ vào năm 1885, đưa Những giấy tờ của Beale ra công chúng. Nickell lập luận rằng toàn bộ câu chuyện vốn là một tác phẩm hư cấu; cụ thể nó được phóng tác từ truyện ngụ ngôn về "hầm bí mật" của Hội Tam Điểm mà bản thân James B. Ward cũng là một thành viên.

Bản rõ của Tờ giấy số "2" đã được giải mã, có nội dung như sau:

Tôi đã để kho báu ở quận Bedford, cách Bulford khoảng 4 dặm, trong một cái hố hay hầm ở sâu dưới lòng đất khoảng 6 bộ, các điều khoản dưới đây, cùng thuộc về một người có tên trong Tờ giấy số "3", gồm:

Kho thứ nhất chứa 1,014 pound vàng và 3,812 pound bạc, được nhập kho vào tháng 11 năm 1819. Kho thứ hai được làm vào tháng 12 năm 1821 bao gồm 1,907 pound vàng và 1,288 pound bạc; còn có cả đá quý đổi ra từ bạc ở St. Louis để vận chuyển cho an toàn, trị giá 13,000 đô la Mỹ.

Tất cả của cải trên được để trong những thùng sắt, nắp đậy bằng sắt. Hầm được lát thô bằng đá và các thùng đựng đặt trên đá, thùng nọ nằm trên thùng kia. Tờ giấy số "1" chứa mô tả chính xác vị trí của hầm nên tìm ra nó không có khó khăn gì.

Bản mã thứ hai có thể giải mã khá dễ dàng bằng cách sử dụng bất kỳ bản sao nào của Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, nhưng cần phải sửa một số lỗi chính tả. Để giải mã nó, người ta tìm từ tương ứng với số (ví dụ: số đầu tiên là 115, và từ thứ 115 trong bản Tuyên ngôn là "instituted"), và lấy chữ cái đầu tiên của từ đó (trong trường hợp ví dụ, đó là chữ "I").

Beale đã dùng một bản sao Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ khác với bản gốc. Để có được thông điệp ẩn chính xác, bản tuyên ngôn gốc phải được sửa theo 5 ý sau:

  • sau từ thứ 154 ("institute") và trước từ thứ 157 ("laying"), phải thêm một từ (có thể là từ "a")
    sau từ thứ 240 ("invariably") và trước từ thứ 246 ("design"), phải xóa bớt một từ
    sau từ thứ 467 ("houses") và trước từ 495 ("be"), phải xóa bớt mười từ
    sau từ thứ 630 ("eat") và trước từ thứ 654 ("to"), phải xóa bớt một từ
    sau từ thứ 677 ("foreign") và trước từ thứ 819 ("valuable"), phải xóa bớt một từ
    Hơn nữa:

Chữ cái đầu tiên ở từ thứ 811 của bản tuyên ngôn gốc đã sửa đổi ("fundamentally") luôn được Beale sử dụng như một chữ "y"
Chữ cái đầu tiên ở từ thứ 1,005 của bản tuyên ngôn gốc đã sửa đổi ("have") luôn được Beale sử dụng như một chữ "x"
Cuối cùng, trong bản rõ được giải mã vẫn tồn tại 4 lỗi, có thể do nhầm lẫn trong quá trình phiên mã:

  • 84 (phải là 85) 63 43 131 29... consistcd ("consisted")
    53 (phải là 54) 20 125 371 38... rhousand ("thousand")
    ... 84 (phải là 85) 575 1005 150 200... thc ("the")
    ... 96 (phải là 95) 405 41 600 136... varlt ("vault")

Đĩa Phaistos

Đĩa Phaistos là một đĩa đất sét nung khai quật từ cung điện Phaistos của nền văn minh Minos trên đảo Crete, niên đại vào khoảng giữa hay cuối thời đồ đồng Minos (thiên niên kỷ 2 TCN). Cái đĩa có đường kính 15 cm (5.9 in), có hình xoắn ốc trên cả hai mặt với nhiều kí hiệu/hình vẽ khác nhau. Mục đích và ý nghĩa, thậm chí cả nơi chế tạo, vẫn là vấn đề tranh cãi, khiến nó trở thành một trong những bí ẩn lớn nhất trong khảo cổ học. Hiện vật độc đáo này hiện được trưng bày ở bảo tàng khảo cổ học Heraklion.

Cái đĩa này được nhà khảo cổ học người Ý Luigi Pernier phát hiện năm 1908 trong một khu cung điện Minos của Phaistos. Trên đĩa có 241 kí hiệu (gồm 45 kí hiệu riêng biệt), có vẻ được tạo nên bằng cách ấn "triện" xuống mặt đất sét mềm theo chiều xoắn ốc vào tâm đĩa.

Đĩa Phaistos gợi lên trí tưởng tượng cho những nhà khảo cổ học, cả nghiệp dư lẫn chuyên nghiệp, và đã có nhiều cố gắng nhằm giải mã những kí hiệu trên đĩa. Dù chưa rõ về bản chất của những kí hiệu trên đĩa, các nhà nghiên cứu vẫn phỏng chừng nó là chữ viết; phỏng đoán phổ biến nhất rằng đây là một bảng âm tự, số khác cho rằng đây là bảng chữ cái hay chữ tượng hình.

thế giới quanh ta vẫn còn nhiều điều bí ẩn cần khám phá 

thế mới biết con người chưa hoàn toàn hiểu hết về nơi mình đang sống 

Cảm ơn bạn, bài viết khá hay và giúp cho mình biết thêm được nhiều thông minh thú vị. 

có nhiều loại mật mã nữa mà con người vẫn chưa biết nữa bạn

Bài viết rất thú vị, cảm ơn bạn đã chia sẻ

Thế giới thật đẹp mà cũng thật bí ẩn liệu con người có thể khám phá được hết bí mật này.

Rất thú vị, cảm ơn bạn.

đọc xong cứ tò mò muốn biêts được...mong nó mau được giải mã

Đọc xong thật sự rất tò mò và nghĩ ra rát nhiều giả thiết cho các loại mật mã khác nhau. Liệu có phải nó là nghiên cứu khoa học thời xưa hay là một mật mã đưa ta tới với kho báu hay là bí mật gì đó về hành tinh này, thậm chí có thể là mật mã mà người đi từ tương lai mang ngôn ngữ của sự hiện đại mà ta khó có thể giải thích được? Vậy liệu ở nước mình có loại mật mã nào không nhỉ? Bạn có thể chia sẻ không?

Mình thích nhất phần

Mật mã Beale

Đây là nơi chôn giấu của vàng, bạc và đồ trang sức, có giá trị rất lớn. Tới nay, địa điểm chính xác của kho báu vẫn còn là một bí ẩn.