Cuốn sách 'Kể chuyện về kim loại'
Quote from Root on 31/08/2021, 01:23Một trong những cuốn sách hấp dẫn nhất về đề tài này từ trước tới nay. Bằng các dẫn chứng sinh động và lối kể chuyện hài hước, dí dỏm, tác giả dẫn chúng ta ngược dòng thời gian trở về thời kỳ mà các kim loại bước vào và từ đó trở thành phần không thể thiếu trong lịch sử loài người...
Tác giả của cuốn sách này là X.I. Venetxki. Qua mỗi chương, với vô số các mẩu chuyện lý thú, và gần gũi với thực tế, tác giả kể cho chúng ta nghe bằng cách nào người ta tìm ra các kim loại, đã kỳ công tinh chế chúng ra sao, con đường mà mỗi kim loại xâm nhập vào đời sống, sự đổi ngôi của chúng, cũng như những đặc tính hữu ích và mới mẻ của chúng dưới vỏ ngoài của các hiện tượng kỳ lạ, huyền bí.
Dẫn dắt qua các câu chuyện, X.I. Venetxki đã biến một trong lĩnh vực khô khan "khó nuốt" nhất thành một đề tài cuốn hút, dễ nhớ mà không hề dùng tới những mô hình hay công thức phức tạp có nguy cơ khiến bạn đọc rối trí. Và khi đóng trang sách lại, bạn đọc còn nhớ câu chuyện về bà chủ trọ keo kiệt với những miếng thịt ôi đã bị liti vạch mặt ra sao, hay những vị khách ức đến phát khóc trong bữa tiệc của hoàng đế Pháp Napoleon III, vì không được dùng loại thìa nhôm sang trọng, thì ấy là X.I. Venetxki đã thành công.
Kể chuyện về kim loại dẫu được viết ra cách đây hơn một thập kỷ, nhưng nội dung của nó vẫn còn nguyên giá trị thực tiễn và mới mẻ cho đến tận ngày nay.
Bản tiếng Việt mà chúng tôi giới thiệu sau đây được dịch bởi Lê Mạnh Chiến, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội, và Nhà xuất bản Mir, 1989.
Tác giả: Bích Hạnh, vnxpress.net.
Một trong những cuốn sách hấp dẫn nhất về đề tài này từ trước tới nay. Bằng các dẫn chứng sinh động và lối kể chuyện hài hước, dí dỏm, tác giả dẫn chúng ta ngược dòng thời gian trở về thời kỳ mà các kim loại bước vào và từ đó trở thành phần không thể thiếu trong lịch sử loài người...

Tác giả của cuốn sách này là X.I. Venetxki. Qua mỗi chương, với vô số các mẩu chuyện lý thú, và gần gũi với thực tế, tác giả kể cho chúng ta nghe bằng cách nào người ta tìm ra các kim loại, đã kỳ công tinh chế chúng ra sao, con đường mà mỗi kim loại xâm nhập vào đời sống, sự đổi ngôi của chúng, cũng như những đặc tính hữu ích và mới mẻ của chúng dưới vỏ ngoài của các hiện tượng kỳ lạ, huyền bí.
Dẫn dắt qua các câu chuyện, X.I. Venetxki đã biến một trong lĩnh vực khô khan "khó nuốt" nhất thành một đề tài cuốn hút, dễ nhớ mà không hề dùng tới những mô hình hay công thức phức tạp có nguy cơ khiến bạn đọc rối trí. Và khi đóng trang sách lại, bạn đọc còn nhớ câu chuyện về bà chủ trọ keo kiệt với những miếng thịt ôi đã bị liti vạch mặt ra sao, hay những vị khách ức đến phát khóc trong bữa tiệc của hoàng đế Pháp Napoleon III, vì không được dùng loại thìa nhôm sang trọng, thì ấy là X.I. Venetxki đã thành công.
Kể chuyện về kim loại dẫu được viết ra cách đây hơn một thập kỷ, nhưng nội dung của nó vẫn còn nguyên giá trị thực tiễn và mới mẻ cho đến tận ngày nay.
Bản tiếng Việt mà chúng tôi giới thiệu sau đây được dịch bởi Lê Mạnh Chiến, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội, và Nhà xuất bản Mir, 1989.
Tác giả: Bích Hạnh, vnxpress.net.
Quote from Root on 31/08/2021, 01:24Nội dung sách có thể đọc trực tuyến qua mỗi chương sau:
- Kể chuyện về kim loại - Lời tựa
- 01. Nhẹ nhất trong số các kim loại - Li
- 02. Kim loại của kỉ nguyên vũ trụ - Be
- 03. Kim loại "dễ phát khùng" - Mg
- 04. "Bạc" lấy từ đất sét - Al - Phần 1
- 05. "Bạc" lấy từ đất sét - Al - Phần 2
- 06. Con của đất - Ti - Phần 1
- 07. Con của đất - Ti - Phần 2
- 08. "Vitamin V" - V
- 09. Chữ "X" bí ẩn - Cr
- 10. Bạn đường muôn thuở của sắt - Mn
- 11. Đã từng thay thế đá - Cu - Phần 1
- 12. Đã từng thay thế đá - Cu - Phần 2
- 13. "Con quỷ đồng" - Ni - Phần 1
- 14. "Con quỷ đồng" - Ni - Phần 2
- 15. "Tấm vải phủ" của thép - Zn - Phần 1
- 16. "Tấm vải phủ" của thép - Zn - Phần 2
- 17. "Trang phục" của những thanh urani - Zr
- 18. Thứ bốn mươi mốt - Nb
- 19. Bạn đồng minh của sắt - Mo - Phần 1
- 20. Bạn đồng minh của sắt - Mo - Phần 2
- 21. Kim loại của mặt trăng - Ag - Phần 1
- 22. Kim loại của mặt trăng - Ag - Phần 2
- 23. "Cứng" mà lại... "mềm" - Sn
- 24. Sinh trưởng trong đau khổ - Ta
- 25. Kẻ cho ta ánh sáng - W
- 26. Sau ba lần khóa - Pt
- 27 . "Vua của các kim loại" - Au - Phần 1
- 28 . "Vua của các kim loại" - Au - Phần 2
- 29. "Nước bạc" - Hg
- 30. Kẻ diệt trừ đế chế La Mã - Pb - Phần 1
- 31. Kẻ diệt trừ đế chế La Mã - Pb - Phần 2
- 32. Nhiên liệu của thế kỉ XX - U - Phần 1
- 33. Nhiên liệu của thế kỉ XX - U - Phần 2 (Hết)
Nội dung sách có thể đọc trực tuyến qua mỗi chương sau:
- Kể chuyện về kim loại - Lời tựa
- 01. Nhẹ nhất trong số các kim loại - Li
- 02. Kim loại của kỉ nguyên vũ trụ - Be
- 03. Kim loại "dễ phát khùng" - Mg
- 04. "Bạc" lấy từ đất sét - Al - Phần 1
- 05. "Bạc" lấy từ đất sét - Al - Phần 2
- 06. Con của đất - Ti - Phần 1
- 07. Con của đất - Ti - Phần 2
- 08. "Vitamin V" - V
- 09. Chữ "X" bí ẩn - Cr
- 10. Bạn đường muôn thuở của sắt - Mn
- 11. Đã từng thay thế đá - Cu - Phần 1
- 12. Đã từng thay thế đá - Cu - Phần 2
- 13. "Con quỷ đồng" - Ni - Phần 1
- 14. "Con quỷ đồng" - Ni - Phần 2
- 15. "Tấm vải phủ" của thép - Zn - Phần 1
- 16. "Tấm vải phủ" của thép - Zn - Phần 2
- 17. "Trang phục" của những thanh urani - Zr
- 18. Thứ bốn mươi mốt - Nb
- 19. Bạn đồng minh của sắt - Mo - Phần 1
- 20. Bạn đồng minh của sắt - Mo - Phần 2
- 21. Kim loại của mặt trăng - Ag - Phần 1
- 22. Kim loại của mặt trăng - Ag - Phần 2
- 23. "Cứng" mà lại... "mềm" - Sn
- 24. Sinh trưởng trong đau khổ - Ta
- 25. Kẻ cho ta ánh sáng - W
- 26. Sau ba lần khóa - Pt
- 27 . "Vua của các kim loại" - Au - Phần 1
- 28 . "Vua của các kim loại" - Au - Phần 2
- 29. "Nước bạc" - Hg
- 30. Kẻ diệt trừ đế chế La Mã - Pb - Phần 1
- 31. Kẻ diệt trừ đế chế La Mã - Pb - Phần 2
- 32. Nhiên liệu của thế kỉ XX - U - Phần 1
- 33. Nhiên liệu của thế kỉ XX - U - Phần 2 (Hết)
Quote from Nguyễn Quốc Hoàng on 02/09/2021, 21:48Cảm ơn bạn rất nhiều về đề tài này, nhờ cuốn sách này giúp mình hiểu hơn về kim loại và những điều hay của chúng , mong bạn sẽ sớm ra nhiều đề tài mới để mình có thể cung cấp thêm kiến thức cho bạn thân
Cảm ơn bạn rất nhiều về đề tài này, nhờ cuốn sách này giúp mình hiểu hơn về kim loại và những điều hay của chúng , mong bạn sẽ sớm ra nhiều đề tài mới để mình có thể cung cấp thêm kiến thức cho bạn thân
Quote from NGUYỄN PHƯỚC THẠNH on 03/09/2021, 13:53Em ấn tượng về kim loại Vàng (Au) nhiều nhất vì:
- Là kim loại quý ,là kim loại dễ uốn dát nhất.
- Vàng có tính dẫn nhiệt và điện tốt, không bị tác động bởi không khí và phần lớn hoá chất (chỉ có bạc và đồng là những chất dẫn điện tốt hơn).
- hông bị ảnh hưởng về mặt hoá học bởi nhiệt, độ ẩm, Oxy và hầu hết chất ăn mòn -> nó thích hợp để tạo tiền kim loại và trang sức.
- Vàng và hợp kim của nó thường được dùng nhiều nhất trong ngành trang sức, tiền kim loại và là một chuẩn cho trao đổi tiền tệ ở nhiều nước. Vì tính dẫn điện tuyệt vời, tính kháng ăn mòn và các kết hợp lý tính và hóa tính mong muốn khác, vàng nổi bật vào cuối thế kỉ XX như là một kim loại công nghiệp thiết yếu.
Em ấn tượng về kim loại Vàng (Au) nhiều nhất vì:
- Là kim loại quý ,là kim loại dễ uốn dát nhất.
- Vàng có tính dẫn nhiệt và điện tốt, không bị tác động bởi không khí và phần lớn hoá chất (chỉ có bạc và đồng là những chất dẫn điện tốt hơn).
- hông bị ảnh hưởng về mặt hoá học bởi nhiệt, độ ẩm, Oxy và hầu hết chất ăn mòn -> nó thích hợp để tạo tiền kim loại và trang sức.
- Vàng và hợp kim của nó thường được dùng nhiều nhất trong ngành trang sức, tiền kim loại và là một chuẩn cho trao đổi tiền tệ ở nhiều nước. Vì tính dẫn điện tuyệt vời, tính kháng ăn mòn và các kết hợp lý tính và hóa tính mong muốn khác, vàng nổi bật vào cuối thế kỉ XX như là một kim loại công nghiệp thiết yếu.
Quote from Lê Nguyễn Trường Phúc on 03/09/2021, 16:06cuốn sách rất hay!
cuốn sách rất hay!
Quote from Nguyễn Minh Vương on 03/09/2021, 17:01hayyy quá..
hayyy quá..
Quote from Nguyễn Thanh Tuấn on 03/09/2021, 18:51quá hấp dẫn
quá hấp dẫn
Quote from Trần Hải Cát on 03/09/2021, 19:23Mấy anh thử đọc chưa mà biết nó hay :))
Mấy anh thử đọc chưa mà biết nó hay :))
Quote from Trương Nam Khánh on 03/09/2021, 20:501% quá trình, thầy phê
Cảm ơn bạn vì bài viết. Mình cũng muốn cho các bạn chưa biết về kim loại Rhenium. Kim loại Rhenium là một trong những kim loại hiếm nhất hiện nay trong vỏ Trái Đất. Nó là một kim loại chuyển tiếp nặng, màu trắng bạc nằm tại hàng ba của nhóm 7 trong bảng tuần hoàn. Nó tương tự như mangan về mặt hóa học và thu được dưới dạng phụ phẩm trong tinh chế molypden và đồng. Nhiệt độ nóng chảy của Rhenium thuộc hàng cao nhất hiện nay, chỉ có wolfram (3.695 K) và cacbon (4.300-4.700 K) là đứng trên nó. . Vì nhiệt độ nóng chảy cao nên kim loại này là 1 kim loại cực kì cần thiết trong ngành cơ khí chế tạo máy móc chịu nhiệt cao như động cơ phản lực của tên lửa, máy bay... Hợp kim của Reni với vonfram dùng làm dây tóc bóng đèn điện, chế tạo pin nhiệt điện. Reni còn được dùng làm chất xúc tác trong công nghiệp lọc – hoá dầu.Vì là một kim loại hiếm nên việc khai thác rất phức tạp và tiền của. Được biết giá của kim loại này tăng nhanh trong đầu năm 2008, từ khoảng 1.000 – 2.000 USD/ kg trong giai đoạn 2003-2006 tới trên 10.000 USD/ kg trong tháng 2 năm 2008. Đến khoảng giữa tháng 3 năm 2020 và tháng 4 năm 2021 thì Rhenium có giá là $1,256/kg.
1% quá trình, thầy phê
Cảm ơn bạn vì bài viết. Mình cũng muốn cho các bạn chưa biết về kim loại Rhenium. Kim loại Rhenium là một trong những kim loại hiếm nhất hiện nay trong vỏ Trái Đất. Nó là một kim loại chuyển tiếp nặng, màu trắng bạc nằm tại hàng ba của nhóm 7 trong bảng tuần hoàn. Nó tương tự như mangan về mặt hóa học và thu được dưới dạng phụ phẩm trong tinh chế molypden và đồng. Nhiệt độ nóng chảy của Rhenium thuộc hàng cao nhất hiện nay, chỉ có wolfram (3.695 K) và cacbon (4.300-4.700 K) là đứng trên nó. . Vì nhiệt độ nóng chảy cao nên kim loại này là 1 kim loại cực kì cần thiết trong ngành cơ khí chế tạo máy móc chịu nhiệt cao như động cơ phản lực của tên lửa, máy bay... Hợp kim của Reni với vonfram dùng làm dây tóc bóng đèn điện, chế tạo pin nhiệt điện. Reni còn được dùng làm chất xúc tác trong công nghiệp lọc – hoá dầu.Vì là một kim loại hiếm nên việc khai thác rất phức tạp và tiền của. Được biết giá của kim loại này tăng nhanh trong đầu năm 2008, từ khoảng 1.000 – 2.000 USD/ kg trong giai đoạn 2003-2006 tới trên 10.000 USD/ kg trong tháng 2 năm 2008. Đến khoảng giữa tháng 3 năm 2020 và tháng 4 năm 2021 thì Rhenium có giá là $1,256/kg.
Quote from Lâm Gia Linh on 03/09/2021, 23:241% quá trình, thầy phê
Riêng bản thân em ấn tượng nhất về Kim Loại Thủy Ngân. Thì như kiến thức THPT thì chắc hẳn ai trong chúng ta cũng điều biết rằng Thủy Ngân là kim loại duy nhất và đặc biệt nhất ở thể lỏng ở điều kiện thường? Vậy tại sao lại như vậy? Nguyên Tố Đặc Biệt này tạo sao nó lại khác biệt đến vậy? Và ứng dụng của nó trong cuộc sống ngày nay là gì?
Thì sau khi đọc "quyển sách số 29" của thầy và em có tìm hiểu thêm trên các diễn đàn Hóa Học thì em có một cách nhìn thực tế hơn về kim loại THỦY NGÂN và cụ thể là:
1/ Thủy Ngân có tên tiếng anh là Mercury(cùng tên với SAO THỦY là hành tinh nhỏ nhất và gần Mặt Trời nhất trong tám hành tinh thuộc Hệ Mặt Trời). Thủy Ngân là nguyên tố kim loại duy nhất ở dạng lỏng ở điều kiện tiêu chuẩn về nhiệt độ và áp suất; yếu tố duy nhất khác là chất lỏng trong các điều kiện này là halogen bromua, mặc dù các kim loại như xêzi, galli và rubidi tan chảy ngay trên nhiệt độ phòng. Thủy ngân là chất lỏng nặng nhất trong tất cả mọi chất lỏng mà người ta đã biết: mật độ của nó bằng 13,6 gam trên một xentimét khối. Điều đó có nghĩa là một lít thủy ngân nặng hơn một xô nước. Nếu một lực sĩ cử tạ nào đó không đặt quả tạ trên sàn mà thả vào một bể thủy ngân thì quả tạ rất nặng ấy sẽ không chìm mà cứ nổi bồng bềnh trên bề mặt kim loại này, giống như cái nút bấc trong nước vậy, bởi vì sắt nhẹ hơn thủy ngân rất nhiều.
2/ Thủy ngân và đối thể của nó là vonfram, chúng ta có thể thấy rõ rằng, tính chất của các kim loại thay đổi trong một khoảng rất rộng. Nếu vonfram nóng chảy ở 3410 độ C (để dễ hình dung, các bạn hay so sánh nhiệt độ của ngọn lửa trong khoang làm việc của lò Mactanh ngay cả ở tiêu điểm cháy cũng không quá 2000 độ C), thì thủy ngân ngay cả khi giá rét kinh khủng cứ vẫn ở thể lỏng và chỉ đông đặc ở - 38,9 độ C. Như các bạn thấy đấy, tuy thủy ngân và vonfram đều thuộc đại gia đình các kim loại, nhưng chúng là những kẻ “họ hàng xa” với nhau.
3/ Trong sách vở cũ có mô tả những trường hợp khi bị xoắn ruột, người ta rót một lượng thủy ngân nào đó (chừng 200 gam đến 250 gam) vào dạ dày người bệnh. Theo ý kiến của các vị thầy thuốc thời xưa từng sử dụng phương pháp điều trị này thì nhờ có tỉ trọng lớn và tính cơ động cao, thủy ngân có thể luồn lách vào những đoạn ruột quanh co để sửa nắn lại các đoạn ruột bị xoắn. Nhưng ở thời đại chúng ta, chứng xoắn ruột được chữa bằng những phương pháp khác bảo đảm hơn, nhưng hiện nay, các hợp chất của thủy ngân vẫn được sử dụng rộng rãi trong y học, chẳng hạn, thủy ngân (II) clorua (HgCl2) có các tính chất sát trùng; calomen (Hg2Cl2) được dùng làm thuốc xổ; mercuzan được dùng làm thuốc thông tiểu tiện; một số thuốc mỡ chứa thủy ngân được dùng làm thuốc chữa bệnh ngoài da và một số bệnh khác.
4/ Trong Y HỌC HIỆN ĐẠI Thủy Ngân được dùng làm thuốc và các thiết bị chứa thủy ngân tiềm ẩn nhiều nguy hiểm, mặc dù chúng đã được sử dụng rộng rãi trong quá khứ. Nhiệt kế và huyết áp kế chứa thủy ngân đã được phát minh trong thế kỷ XVIII và XIX, trong đầu thế kỷ XXI, việc sử dụng chúng đã giảm và bị cấm ở một số quốc gia, khu vực và trường đại học. Năm 2002, Thượng viện Mỹ đã thông qua sắc luật cấm bán nhiệt kế thủy ngân không theo đơn thuốc. Năm 2003, Washington và Maine trở thành các bang đầu tiên cấm các thiết bị đo huyết áp có chứa thủy ngân. Năm 2005, các hợp chất thủy ngân được tìm thấy ở một số dược phẩm quá mức cho phép, ví dụ các chất tẩy trùng cục bộ, thuốc nhuận tràng, thuốc mỡ trên tã chống hăm, các thuốc nhỏ mắt hay xịt mũi. Cục quản lý thuốc và thực phẩm (FDA) có "dữ liệu không đủ để thiết lập sự thừa nhận chung về tính an toàn và hiệu quả" của thành phần thủy ngân trong các sản phẩm này.
5/ Trong KỸ THUẬT, thủy ngân ở dạng tinh khiết cũng được sử dụng rộng rãi. Chẳng hạn, trong công nghiệp hóa học, nó tham gia quá trình sản xuất khí clo, xút ăn da, axit axetic tổng hợp. Van thủy ngân dùng để chỉnh lưu dòng điện xoay chiều, vừa bền vừa rất bảo đảm. Các khí cụ đo lường và tự động điều khiển được lắp công tắc thủy ngân: chúng bảo đảm việc đóng và ngắt mạch điện một cách tức thời. Đèn thủy ngân - thạch anh tạo ra bức xạ tử ngoài rất mạnh: trong y học, loại đèn này được sử dụng để khử trùng không khí trong phòng mổ, để chiếu rọi cơ thể người với mục đích chữa bệnh.
6/ Thủy ngân được sử dụng trong nhiệt kế, áp kế, áp suất kế, huyết áp kế, van phao, công tắc thủy ngân, rơle thủy ngân, đèn huỳnh quang và các thiết bị khác, mặc dù những lo ngại về độc tính của nguyên tố này đã dẫn đến nhiệt kế thủy ngân và máy đo huyết áp bị loại bỏ trong môi trường lâm sàng. lựa chọn thay thế bằng rượu hoặc galinstan trong các nhiệt kế thủy tinh và thermistor - hoặc công cụ điện tử hồng ngoại dựa trên. Tương tự như vậy, đồng hồ đo áp suất cơ học và cảm biến đo biến dạng điện tử đã thay thế máy đo huyết áp thủy ngân.
7/ Thủy ngân vẫn được sử dụng trong các ứng dụng nghiên cứu khoa học và trong amalgam để phục hồi răng ở một số địa phương. Nó cũng được sử dụng trong đèn huỳnh quang. Điện truyền qua hơi thủy ngân trong đèn huỳnh quang tạo ra tia cực tím sóng ngắn, sau đó làm cho phosphor trong ống đèn phát huỳnh quang, tạo ra ánh sáng nhìn thấy được.
8/ Tuy nhiều ứng dụng trong cuộc sống và trong Y HỌC như ta không thể phủ nhận rằng: :THỦY NGÂN LÀ KIM LOẠI ĐỘC THẬM CHÍ LÀ RẤT ĐỘC.
- Nhiễm độc thủy ngân có thể xảy ra do tiếp xúc với các dạng thủy ngân tan trong nước (như chloride thủy ngân hoặc methylmercury), do hít phải hơi thủy ngân hoặc ăn bất kỳ dạng thủy ngân nào.
- Thủy ngân là chất độc tích lũy sinh học rất dễ dàng hấp thụ qua da, các cơ quan hô hấp và tiêu hóa. Các hợp chất vô cơ ít độc hơn so với hợp chất hữu cơ của thủy ngân. Cho dù ít độc hơn so với các hợp chất của nó nhưng thủy ngân vẫn tạo ra sự ô nhiễm đáng kể đối với môi trường vì nó tạo ra các hợp chất hữu cơ trong các cơ thể sinh vật.
- Chứng bệnh Minamata là một dạng ngộ độc thủy ngân. Thủy ngân tấn công hệ thần kinh trung ương và hệ nội tiết và ảnh hưởng tới miệng, các cơ quai hàm và răng. Sự phơi nhiễm kéo dài gây ra các tổn thương não và gây tử vong. Nó có thể gây ra các rủi ro hay khuyết tật đối với các thai nhi. Không khí ở nhiệt độ phòng có thể bão hòa hơi thủy ngân cao hơn nhiều lần so với mức cho phép, cho dù nhiệt độ sôi của thủy ngân là không thấp.
- Một trong những hợp chất độc nhất của nó là đimêtyl thủy ngân, là độc đến đến mức chỉ vài micrôlít rơi vào da có thể gây tử vong. Một trong những mục tiêu chính của các chất độc này là enzym pyruvat dehiđrôgenat (PDH). Enzym bị ức chế hoàn toàn bởi một vài hợp chất của thủy ngân, thành phần gốc acid lipoic của phức hợp đa enzym liên kết với các hợp chất đó rất bền và vì thế PDH bị ức chế.
9/ Một số ví dụ điển hình về NGỘ ĐỘC THỦY NGÂN:
- Ví dụ điển hình là thảm họa ô nhiễm ở vịnh Minamata của Nhật Bản, nơi bắt nguồn tên 1 loại bệnh gọi là Minamata. Các nghiên cứu từ khoảng năm 1956 đến 1960 cho thấy các triệu chứng bất thường (về thần kinh) được tìm thấy ở những người trong khu vực này, có thể từ nước thải công nghiệp có chứa methylmercury. Hơn 2.200 người bị phơi nhiễm và hơn 1.700 người chết. Điều này cuối cùng được chứng minh là do độc tính của methylmercury.
- Hay ở Mexico, Thủy ngân đã được sử dụng trong các loại kem bôi da, và sự kiên về kem gây ngộ độc thủy ngân hay còn gọi là “Crèma de Belleza-Manning.”
10/ Cảnh báo và quy định hiện hành về việc sử dụng thủy ngân.
- Thủy ngân cần được tiếp xúc một cách cực kỳ cẩn thận. Các đồ chứa thủy ngân phải đậy nắp chặt chẽ để tránh rò rỉ và bay hơi. Việc đốt nóng thủy ngân hay các hợp chất của nó phải tiến hành trong điều kiện thông gió tốt và người thực hiện phải đội mũ có bộ lọc khí. Ngoài ra, một số oxide có thể bị phân tích thành thủy ngân, nó có thể bay hơi ngay lập tức mà không để lại dấu vết.người tiếp xúc nên trang bị mặt nạ phòng độc,áo liền quần có mũ bằng nhựa(coverall suit),găng tay,kính bảo hộ,kính che mặt.
- Vì các ảnh hưởng tới sức khỏe trong phơi nhiễm thủy ngân, các ứng dụng thương mại và công nghiệp nói chung được điều tiết ở các nước công nghiệp. Tổ chức y tế thế giới (WHO), OSHA và NIOSH đều thống nhất rằng thủy ngân là nguy hiểm nghề nghiệp và đã thiết lập các giới hạn cụ thể cho các phơi nhiễm nghề nghiệp. Ở Mỹ, giới hạn thải ra môi trường được EPA quy định.
Tài liệu đọc và tham khảo:
- https://gacsach.com/doc-online/114490/29-nuoc-bac-hg.html
- https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%A7y_ng%C3%A2n
- https://yhoccongdong.com/thongtin/kien-thuc-co-ban-ve-ngo-doc-thuy-ngan/
Cảm ơn thầy và các bạn đã cùng đọc và tìm hiểu cùng mình về KIM LOẠI ĐẶC BIỆT NÀY.
1% quá trình, thầy phê
Riêng bản thân em ấn tượng nhất về Kim Loại Thủy Ngân. Thì như kiến thức THPT thì chắc hẳn ai trong chúng ta cũng điều biết rằng Thủy Ngân là kim loại duy nhất và đặc biệt nhất ở thể lỏng ở điều kiện thường? Vậy tại sao lại như vậy? Nguyên Tố Đặc Biệt này tạo sao nó lại khác biệt đến vậy? Và ứng dụng của nó trong cuộc sống ngày nay là gì?
Thì sau khi đọc "quyển sách số 29" của thầy và em có tìm hiểu thêm trên các diễn đàn Hóa Học thì em có một cách nhìn thực tế hơn về kim loại THỦY NGÂN và cụ thể là:
1/ Thủy Ngân có tên tiếng anh là Mercury(cùng tên với SAO THỦY là hành tinh nhỏ nhất và gần Mặt Trời nhất trong tám hành tinh thuộc Hệ Mặt Trời). Thủy Ngân là nguyên tố kim loại duy nhất ở dạng lỏng ở điều kiện tiêu chuẩn về nhiệt độ và áp suất; yếu tố duy nhất khác là chất lỏng trong các điều kiện này là halogen bromua, mặc dù các kim loại như xêzi, galli và rubidi tan chảy ngay trên nhiệt độ phòng. Thủy ngân là chất lỏng nặng nhất trong tất cả mọi chất lỏng mà người ta đã biết: mật độ của nó bằng 13,6 gam trên một xentimét khối. Điều đó có nghĩa là một lít thủy ngân nặng hơn một xô nước. Nếu một lực sĩ cử tạ nào đó không đặt quả tạ trên sàn mà thả vào một bể thủy ngân thì quả tạ rất nặng ấy sẽ không chìm mà cứ nổi bồng bềnh trên bề mặt kim loại này, giống như cái nút bấc trong nước vậy, bởi vì sắt nhẹ hơn thủy ngân rất nhiều.
2/ Thủy ngân và đối thể của nó là vonfram, chúng ta có thể thấy rõ rằng, tính chất của các kim loại thay đổi trong một khoảng rất rộng. Nếu vonfram nóng chảy ở 3410 độ C (để dễ hình dung, các bạn hay so sánh nhiệt độ của ngọn lửa trong khoang làm việc của lò Mactanh ngay cả ở tiêu điểm cháy cũng không quá 2000 độ C), thì thủy ngân ngay cả khi giá rét kinh khủng cứ vẫn ở thể lỏng và chỉ đông đặc ở - 38,9 độ C. Như các bạn thấy đấy, tuy thủy ngân và vonfram đều thuộc đại gia đình các kim loại, nhưng chúng là những kẻ “họ hàng xa” với nhau.
3/ Trong sách vở cũ có mô tả những trường hợp khi bị xoắn ruột, người ta rót một lượng thủy ngân nào đó (chừng 200 gam đến 250 gam) vào dạ dày người bệnh. Theo ý kiến của các vị thầy thuốc thời xưa từng sử dụng phương pháp điều trị này thì nhờ có tỉ trọng lớn và tính cơ động cao, thủy ngân có thể luồn lách vào những đoạn ruột quanh co để sửa nắn lại các đoạn ruột bị xoắn. Nhưng ở thời đại chúng ta, chứng xoắn ruột được chữa bằng những phương pháp khác bảo đảm hơn, nhưng hiện nay, các hợp chất của thủy ngân vẫn được sử dụng rộng rãi trong y học, chẳng hạn, thủy ngân (II) clorua (HgCl2) có các tính chất sát trùng; calomen (Hg2Cl2) được dùng làm thuốc xổ; mercuzan được dùng làm thuốc thông tiểu tiện; một số thuốc mỡ chứa thủy ngân được dùng làm thuốc chữa bệnh ngoài da và một số bệnh khác.
4/ Trong Y HỌC HIỆN ĐẠI Thủy Ngân được dùng làm thuốc và các thiết bị chứa thủy ngân tiềm ẩn nhiều nguy hiểm, mặc dù chúng đã được sử dụng rộng rãi trong quá khứ. Nhiệt kế và huyết áp kế chứa thủy ngân đã được phát minh trong thế kỷ XVIII và XIX, trong đầu thế kỷ XXI, việc sử dụng chúng đã giảm và bị cấm ở một số quốc gia, khu vực và trường đại học. Năm 2002, Thượng viện Mỹ đã thông qua sắc luật cấm bán nhiệt kế thủy ngân không theo đơn thuốc. Năm 2003, Washington và Maine trở thành các bang đầu tiên cấm các thiết bị đo huyết áp có chứa thủy ngân. Năm 2005, các hợp chất thủy ngân được tìm thấy ở một số dược phẩm quá mức cho phép, ví dụ các chất tẩy trùng cục bộ, thuốc nhuận tràng, thuốc mỡ trên tã chống hăm, các thuốc nhỏ mắt hay xịt mũi. Cục quản lý thuốc và thực phẩm (FDA) có "dữ liệu không đủ để thiết lập sự thừa nhận chung về tính an toàn và hiệu quả" của thành phần thủy ngân trong các sản phẩm này.
5/ Trong KỸ THUẬT, thủy ngân ở dạng tinh khiết cũng được sử dụng rộng rãi. Chẳng hạn, trong công nghiệp hóa học, nó tham gia quá trình sản xuất khí clo, xút ăn da, axit axetic tổng hợp. Van thủy ngân dùng để chỉnh lưu dòng điện xoay chiều, vừa bền vừa rất bảo đảm. Các khí cụ đo lường và tự động điều khiển được lắp công tắc thủy ngân: chúng bảo đảm việc đóng và ngắt mạch điện một cách tức thời. Đèn thủy ngân - thạch anh tạo ra bức xạ tử ngoài rất mạnh: trong y học, loại đèn này được sử dụng để khử trùng không khí trong phòng mổ, để chiếu rọi cơ thể người với mục đích chữa bệnh.
6/ Thủy ngân được sử dụng trong nhiệt kế, áp kế, áp suất kế, huyết áp kế, van phao, công tắc thủy ngân, rơle thủy ngân, đèn huỳnh quang và các thiết bị khác, mặc dù những lo ngại về độc tính của nguyên tố này đã dẫn đến nhiệt kế thủy ngân và máy đo huyết áp bị loại bỏ trong môi trường lâm sàng. lựa chọn thay thế bằng rượu hoặc galinstan trong các nhiệt kế thủy tinh và thermistor - hoặc công cụ điện tử hồng ngoại dựa trên. Tương tự như vậy, đồng hồ đo áp suất cơ học và cảm biến đo biến dạng điện tử đã thay thế máy đo huyết áp thủy ngân.

7/ Thủy ngân vẫn được sử dụng trong các ứng dụng nghiên cứu khoa học và trong amalgam để phục hồi răng ở một số địa phương. Nó cũng được sử dụng trong đèn huỳnh quang. Điện truyền qua hơi thủy ngân trong đèn huỳnh quang tạo ra tia cực tím sóng ngắn, sau đó làm cho phosphor trong ống đèn phát huỳnh quang, tạo ra ánh sáng nhìn thấy được.
8/ Tuy nhiều ứng dụng trong cuộc sống và trong Y HỌC như ta không thể phủ nhận rằng: :THỦY NGÂN LÀ KIM LOẠI ĐỘC THẬM CHÍ LÀ RẤT ĐỘC.
- Nhiễm độc thủy ngân có thể xảy ra do tiếp xúc với các dạng thủy ngân tan trong nước (như chloride thủy ngân hoặc methylmercury), do hít phải hơi thủy ngân hoặc ăn bất kỳ dạng thủy ngân nào.
- Thủy ngân là chất độc tích lũy sinh học rất dễ dàng hấp thụ qua da, các cơ quan hô hấp và tiêu hóa. Các hợp chất vô cơ ít độc hơn so với hợp chất hữu cơ của thủy ngân. Cho dù ít độc hơn so với các hợp chất của nó nhưng thủy ngân vẫn tạo ra sự ô nhiễm đáng kể đối với môi trường vì nó tạo ra các hợp chất hữu cơ trong các cơ thể sinh vật.
- Chứng bệnh Minamata là một dạng ngộ độc thủy ngân. Thủy ngân tấn công hệ thần kinh trung ương và hệ nội tiết và ảnh hưởng tới miệng, các cơ quai hàm và răng. Sự phơi nhiễm kéo dài gây ra các tổn thương não và gây tử vong. Nó có thể gây ra các rủi ro hay khuyết tật đối với các thai nhi. Không khí ở nhiệt độ phòng có thể bão hòa hơi thủy ngân cao hơn nhiều lần so với mức cho phép, cho dù nhiệt độ sôi của thủy ngân là không thấp.
- Một trong những hợp chất độc nhất của nó là đimêtyl thủy ngân, là độc đến đến mức chỉ vài micrôlít rơi vào da có thể gây tử vong. Một trong những mục tiêu chính của các chất độc này là enzym pyruvat dehiđrôgenat (PDH). Enzym bị ức chế hoàn toàn bởi một vài hợp chất của thủy ngân, thành phần gốc acid lipoic của phức hợp đa enzym liên kết với các hợp chất đó rất bền và vì thế PDH bị ức chế.
9/ Một số ví dụ điển hình về NGỘ ĐỘC THỦY NGÂN:
- Ví dụ điển hình là thảm họa ô nhiễm ở vịnh Minamata của Nhật Bản, nơi bắt nguồn tên 1 loại bệnh gọi là Minamata. Các nghiên cứu từ khoảng năm 1956 đến 1960 cho thấy các triệu chứng bất thường (về thần kinh) được tìm thấy ở những người trong khu vực này, có thể từ nước thải công nghiệp có chứa methylmercury. Hơn 2.200 người bị phơi nhiễm và hơn 1.700 người chết. Điều này cuối cùng được chứng minh là do độc tính của methylmercury.
- Hay ở Mexico, Thủy ngân đã được sử dụng trong các loại kem bôi da, và sự kiên về kem gây ngộ độc thủy ngân hay còn gọi là “Crèma de Belleza-Manning.”
10/ Cảnh báo và quy định hiện hành về việc sử dụng thủy ngân.
- Thủy ngân cần được tiếp xúc một cách cực kỳ cẩn thận. Các đồ chứa thủy ngân phải đậy nắp chặt chẽ để tránh rò rỉ và bay hơi. Việc đốt nóng thủy ngân hay các hợp chất của nó phải tiến hành trong điều kiện thông gió tốt và người thực hiện phải đội mũ có bộ lọc khí. Ngoài ra, một số oxide có thể bị phân tích thành thủy ngân, nó có thể bay hơi ngay lập tức mà không để lại dấu vết.người tiếp xúc nên trang bị mặt nạ phòng độc,áo liền quần có mũ bằng nhựa(coverall suit),găng tay,kính bảo hộ,kính che mặt.
- Vì các ảnh hưởng tới sức khỏe trong phơi nhiễm thủy ngân, các ứng dụng thương mại và công nghiệp nói chung được điều tiết ở các nước công nghiệp. Tổ chức y tế thế giới (WHO), OSHA và NIOSH đều thống nhất rằng thủy ngân là nguy hiểm nghề nghiệp và đã thiết lập các giới hạn cụ thể cho các phơi nhiễm nghề nghiệp. Ở Mỹ, giới hạn thải ra môi trường được EPA quy định.
Tài liệu đọc và tham khảo:
- https://gacsach.com/doc-online/114490/29-nuoc-bac-hg.html
- https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%A7y_ng%C3%A2n
- https://yhoccongdong.com/thongtin/kien-thuc-co-ban-ve-ngo-doc-thuy-ngan/
Cảm ơn thầy và các bạn đã cùng đọc và tìm hiểu cùng mình về KIM LOẠI ĐẶC BIỆT NÀY.
Uploaded files:
Quote from Lý Quốc Thái on 04/09/2021, 12:301% quá trình, thầy phê
Mình xin cảm ơn về bài viết khá là hữu ích của bạn bởi nó giúp mình và cũng như tất cả mọi người ở đây phần nào có thể hiểu được về các tính chất chung của kim loại và những điều hay mà chúng ta chưa biết về chúng. Mình sẽ tìm và đọc quyển sách này. Sẵn đây mình xin nói về một kim loại hiếm nhất thế giới đang tăng giá phi mã đó chính là Rhodium.
Thì dành cho những ai chưa biết về Rhodium thì đây là một nguyên tố hóa học có ký hiệu Rh và số nguyên tử là 45, là một kim loại chuyển tiếp có màu trắng bạc, cứng và bền có hệ số phản xạ cao. Nhờ tính chất hóa học đặc biệt, Rhodium không bị ăn mòn và oxy hóa, ít bị mờ và trầy xước. Được phát hiện bởi William Hyde Wollaston vào năm 1803, Rhodium thuộc nhóm kim loại quý giá đắt tiền nhất thế giới bởi độ hiếm, hiện kim loại này đang tăng rất mạnh.
Rhodium được coi là kim loại quý hiếm nhất và có giá trị nhất trên thế giới - hơn rất nhiều so với vàng hoặc bạch kim. Thời điểm tháng 3/2021, giá rhodium tăng lên tới 29.200 USD/ounce, so với mức 16.990 USD hôm 31/12/2020. Nếu tính từ ngày 1/1/2021, giá Rhodium hiện tăng khoảng 72%. Với mức giá này, rhodium đắt gấp 17 lần vàng, gấp 12 lần palađi và gấp 25 lần bạch kim.
Công dụng chính của kim loại này là sử dụng trong bộ chuyển đổi xúc tác (có thể gọi là bộ xử lý khí thải) - một bộ phận củ a hệ thống khí thải của xe ô tô để giảm lượng khí thải độc hại và các chất ô nhiễm ra môi trường.
Rhodi nguồn gốc tự nhiên chỉ chứa một đồng vị (Rh103). Các đồng vị phóng xạ ổn định nhất là Rh101 với chu kỳ bán rã 3,3 năm, Rh102 (207 ngày), Rh102m (2,9 năm) và Rh99 (16,1 ngày). Hai mươi đồng vị phóng xạ khác cũng đã được nêu đặc trưng, với nguyên tử lượng trong khoảng từ 92,926 (Rh93) tới 116,925 (Rh117). Phần lớn trong số này có chu kỳ bán rã nhỏ hơn 1 giờ, ngoại trừ Rh100 (20,8 giờ) và Rh105 (35,36 giờ). Nó cũng có một số đồng phân hạt nhân ổn định nhất là Rh102m (0,141 MeV, 207 ngày) và Rh101m (0,157 MeV, 4,34 ngày).
Trong tự nhiên, Rhodium không tồn tại ở dạng nguyên chất, nó được tìm thấy pha lẫn các chất khác trong quặng platinum hay niken với số lượng rất ít.
Cách bảo quản trang sức mạ Rhodium
Các bạn có thể dùng các cách sau đây để tối ưu tuổi thọ trang sức mạ Rhodium:
- Làm sạch trang sức bằng dung dịch bao gồm một ít nước và dầu gội đầu dạng lỏng, nhẹ.
- Không dùng hóa chất tẩy rửa mạnh để làm sạch bề mặt xi mạ Rhodium.
- Không nên sử dụng các loại vải đánh bóng dùng cho trang sức vàng, bạc để lau trang sức mạ Rhodium.
- Không đeo trang sức khi trang điểm hoặc xịt nước hoa.
- Nếu trang sức bị dính phấn trang điểm cần rửa sạch nhẹ nhàng bằng nước và cất trong hộp vải mềm.
- Tránh va chạm, tiếp xúc với bề mặt cứng thường xuyên.
- Nên dùng vải mềm, sợi nhỏ, không dùng vải thô cứng.
Một số tài liệu tham khảo :
https://eropi.com/news/rhodium-kim-loai-quy-gia-va-dat-tien-nhat-the-gioi
https://vi.wikipedia.org/wiki/Rhodi#:~:text=Rhodi%20(ti%E1%BA%BFng%20La%20tinh%3A%20Rhodium,l%C3%A0%20m%E1%BB%99t%20ch%E1%BA%A5t%20x%C3%BAc%20t%C3%A1c.
Cảm ơn thầy và các bạn đã đọc ạ.
1% quá trình, thầy phê
Mình xin cảm ơn về bài viết khá là hữu ích của bạn bởi nó giúp mình và cũng như tất cả mọi người ở đây phần nào có thể hiểu được về các tính chất chung của kim loại và những điều hay mà chúng ta chưa biết về chúng. Mình sẽ tìm và đọc quyển sách này. Sẵn đây mình xin nói về một kim loại hiếm nhất thế giới đang tăng giá phi mã đó chính là Rhodium.
Thì dành cho những ai chưa biết về Rhodium thì đây là một nguyên tố hóa học có ký hiệu Rh và số nguyên tử là 45, là một kim loại chuyển tiếp có màu trắng bạc, cứng và bền có hệ số phản xạ cao. Nhờ tính chất hóa học đặc biệt, Rhodium không bị ăn mòn và oxy hóa, ít bị mờ và trầy xước. Được phát hiện bởi William Hyde Wollaston vào năm 1803, Rhodium thuộc nhóm kim loại quý giá đắt tiền nhất thế giới bởi độ hiếm, hiện kim loại này đang tăng rất mạnh.

Rhodium được coi là kim loại quý hiếm nhất và có giá trị nhất trên thế giới - hơn rất nhiều so với vàng hoặc bạch kim. Thời điểm tháng 3/2021, giá rhodium tăng lên tới 29.200 USD/ounce, so với mức 16.990 USD hôm 31/12/2020. Nếu tính từ ngày 1/1/2021, giá Rhodium hiện tăng khoảng 72%. Với mức giá này, rhodium đắt gấp 17 lần vàng, gấp 12 lần palađi và gấp 25 lần bạch kim.
Công dụng chính của kim loại này là sử dụng trong bộ chuyển đổi xúc tác (có thể gọi là bộ xử lý khí thải) - một bộ phận củ a hệ thống khí thải của xe ô tô để giảm lượng khí thải độc hại và các chất ô nhiễm ra môi trường.
Rhodi nguồn gốc tự nhiên chỉ chứa một đồng vị (Rh103). Các đồng vị phóng xạ ổn định nhất là Rh101 với chu kỳ bán rã 3,3 năm, Rh102 (207 ngày), Rh102m (2,9 năm) và Rh99 (16,1 ngày). Hai mươi đồng vị phóng xạ khác cũng đã được nêu đặc trưng, với nguyên tử lượng trong khoảng từ 92,926 (Rh93) tới 116,925 (Rh117). Phần lớn trong số này có chu kỳ bán rã nhỏ hơn 1 giờ, ngoại trừ Rh100 (20,8 giờ) và Rh105 (35,36 giờ). Nó cũng có một số đồng phân hạt nhân ổn định nhất là Rh102m (0,141 MeV, 207 ngày) và Rh101m (0,157 MeV, 4,34 ngày).
Trong tự nhiên, Rhodium không tồn tại ở dạng nguyên chất, nó được tìm thấy pha lẫn các chất khác trong quặng platinum hay niken với số lượng rất ít.
Cách bảo quản trang sức mạ Rhodium
Các bạn có thể dùng các cách sau đây để tối ưu tuổi thọ trang sức mạ Rhodium:
- Làm sạch trang sức bằng dung dịch bao gồm một ít nước và dầu gội đầu dạng lỏng, nhẹ.
- Không dùng hóa chất tẩy rửa mạnh để làm sạch bề mặt xi mạ Rhodium.
- Không nên sử dụng các loại vải đánh bóng dùng cho trang sức vàng, bạc để lau trang sức mạ Rhodium.
- Không đeo trang sức khi trang điểm hoặc xịt nước hoa.
- Nếu trang sức bị dính phấn trang điểm cần rửa sạch nhẹ nhàng bằng nước và cất trong hộp vải mềm.
- Tránh va chạm, tiếp xúc với bề mặt cứng thường xuyên.
- Nên dùng vải mềm, sợi nhỏ, không dùng vải thô cứng.
Một số tài liệu tham khảo :
https://eropi.com/news/rhodium-kim-loai-quy-gia-va-dat-tien-nhat-the-gioi
Cảm ơn thầy và các bạn đã đọc ạ.
Quote from Trần Hữu Tường on 04/09/2021, 12:42Quote from Lâm Gia Linh on 03/09/2021, 23:24Riêng bản thân em ấn tượng nhất về Kim Loại Thủy Ngân. Thì như kiến thức THPT thì chắc hẳn ai trong chúng ta cũng điều biết rằng Thủy Ngân là kim loại duy nhất và đặc biệt nhất ở thể lỏng ở điều kiện thường? Vậy tại sao lại như vậy? Nguyên Tố Đặc Biệt này tạo sao nó lại khác biệt đến vậy? Và ứng dụng của nó trong cuộc sống ngày nay là gì?
Thì sau khi đọc "quyển sách số 29" của thầy và em có tìm hiểu thêm trên các diễn đàn Hóa Học thì em có một cách nhìn thực tế hơn về kim loại THỦY NGÂN và cụ thể là:
1/ Thủy Ngân có tên tiếng anh là Mercury(cùng tên với SAO THỦY là hành tinh nhỏ nhất và gần Mặt Trời nhất trong tám hành tinh thuộc Hệ Mặt Trời). Thủy Ngân là nguyên tố kim loại duy nhất ở dạng lỏng ở điều kiện tiêu chuẩn về nhiệt độ và áp suất; yếu tố duy nhất khác là chất lỏng trong các điều kiện này là halogen bromua, mặc dù các kim loại như xêzi, galli và rubidi tan chảy ngay trên nhiệt độ phòng. Thủy ngân là chất lỏng nặng nhất trong tất cả mọi chất lỏng mà người ta đã biết: mật độ của nó bằng 13,6 gam trên một xentimét khối. Điều đó có nghĩa là một lít thủy ngân nặng hơn một xô nước. Nếu một lực sĩ cử tạ nào đó không đặt quả tạ trên sàn mà thả vào một bể thủy ngân thì quả tạ rất nặng ấy sẽ không chìm mà cứ nổi bồng bềnh trên bề mặt kim loại này, giống như cái nút bấc trong nước vậy, bởi vì sắt nhẹ hơn thủy ngân rất nhiều.
2/ Thủy ngân và đối thể của nó là vonfram, chúng ta có thể thấy rõ rằng, tính chất của các kim loại thay đổi trong một khoảng rất rộng. Nếu vonfram nóng chảy ở 3410 độ C (để dễ hình dung, các bạn hay so sánh nhiệt độ của ngọn lửa trong khoang làm việc của lò Mactanh ngay cả ở tiêu điểm cháy cũng không quá 2000 độ C), thì thủy ngân ngay cả khi giá rét kinh khủng cứ vẫn ở thể lỏng và chỉ đông đặc ở - 38,9 độ C. Như các bạn thấy đấy, tuy thủy ngân và vonfram đều thuộc đại gia đình các kim loại, nhưng chúng là những kẻ “họ hàng xa” với nhau.
3/ Trong sách vở cũ có mô tả những trường hợp khi bị xoắn ruột, người ta rót một lượng thủy ngân nào đó (chừng 200 gam đến 250 gam) vào dạ dày người bệnh. Theo ý kiến của các vị thầy thuốc thời xưa từng sử dụng phương pháp điều trị này thì nhờ có tỉ trọng lớn và tính cơ động cao, thủy ngân có thể luồn lách vào những đoạn ruột quanh co để sửa nắn lại các đoạn ruột bị xoắn. Nhưng ở thời đại chúng ta, chứng xoắn ruột được chữa bằng những phương pháp khác bảo đảm hơn, nhưng hiện nay, các hợp chất của thủy ngân vẫn được sử dụng rộng rãi trong y học, chẳng hạn, thủy ngân (II) clorua (HgCl2) có các tính chất sát trùng; calomen (Hg2Cl2) được dùng làm thuốc xổ; mercuzan được dùng làm thuốc thông tiểu tiện; một số thuốc mỡ chứa thủy ngân được dùng làm thuốc chữa bệnh ngoài da và một số bệnh khác.
4/ Trong Y HỌC HIỆN ĐẠI Thủy Ngân được dùng làm thuốc và các thiết bị chứa thủy ngân tiềm ẩn nhiều nguy hiểm, mặc dù chúng đã được sử dụng rộng rãi trong quá khứ. Nhiệt kế và huyết áp kế chứa thủy ngân đã được phát minh trong thế kỷ XVIII và XIX, trong đầu thế kỷ XXI, việc sử dụng chúng đã giảm và bị cấm ở một số quốc gia, khu vực và trường đại học. Năm 2002, Thượng viện Mỹ đã thông qua sắc luật cấm bán nhiệt kế thủy ngân không theo đơn thuốc. Năm 2003, Washington và Maine trở thành các bang đầu tiên cấm các thiết bị đo huyết áp có chứa thủy ngân. Năm 2005, các hợp chất thủy ngân được tìm thấy ở một số dược phẩm quá mức cho phép, ví dụ các chất tẩy trùng cục bộ, thuốc nhuận tràng, thuốc mỡ trên tã chống hăm, các thuốc nhỏ mắt hay xịt mũi. Cục quản lý thuốc và thực phẩm (FDA) có "dữ liệu không đủ để thiết lập sự thừa nhận chung về tính an toàn và hiệu quả" của thành phần thủy ngân trong các sản phẩm này.
5/ Trong KỸ THUẬT, thủy ngân ở dạng tinh khiết cũng được sử dụng rộng rãi. Chẳng hạn, trong công nghiệp hóa học, nó tham gia quá trình sản xuất khí clo, xút ăn da, axit axetic tổng hợp. Van thủy ngân dùng để chỉnh lưu dòng điện xoay chiều, vừa bền vừa rất bảo đảm. Các khí cụ đo lường và tự động điều khiển được lắp công tắc thủy ngân: chúng bảo đảm việc đóng và ngắt mạch điện một cách tức thời. Đèn thủy ngân - thạch anh tạo ra bức xạ tử ngoài rất mạnh: trong y học, loại đèn này được sử dụng để khử trùng không khí trong phòng mổ, để chiếu rọi cơ thể người với mục đích chữa bệnh.
6/ Thủy ngân được sử dụng trong nhiệt kế, áp kế, áp suất kế, huyết áp kế, van phao, công tắc thủy ngân, rơle thủy ngân, đèn huỳnh quang và các thiết bị khác, mặc dù những lo ngại về độc tính của nguyên tố này đã dẫn đến nhiệt kế thủy ngân và máy đo huyết áp bị loại bỏ trong môi trường lâm sàng. lựa chọn thay thế bằng rượu hoặc galinstan trong các nhiệt kế thủy tinh và thermistor - hoặc công cụ điện tử hồng ngoại dựa trên. Tương tự như vậy, đồng hồ đo áp suất cơ học và cảm biến đo biến dạng điện tử đã thay thế máy đo huyết áp thủy ngân.
7/ Thủy ngân vẫn được sử dụng trong các ứng dụng nghiên cứu khoa học và trong amalgam để phục hồi răng ở một số địa phương. Nó cũng được sử dụng trong đèn huỳnh quang. Điện truyền qua hơi thủy ngân trong đèn huỳnh quang tạo ra tia cực tím sóng ngắn, sau đó làm cho phosphor trong ống đèn phát huỳnh quang, tạo ra ánh sáng nhìn thấy được.
8/ Tuy nhiều ứng dụng trong cuộc sống và trong Y HỌC như ta không thể phủ nhận rằng: :THỦY NGÂN LÀ KIM LOẠI ĐỘC THẬM CHÍ LÀ RẤT ĐỘC.
- Nhiễm độc thủy ngân có thể xảy ra do tiếp xúc với các dạng thủy ngân tan trong nước (như chloride thủy ngân hoặc methylmercury), do hít phải hơi thủy ngân hoặc ăn bất kỳ dạng thủy ngân nào.
- Thủy ngân là chất độc tích lũy sinh học rất dễ dàng hấp thụ qua da, các cơ quan hô hấp và tiêu hóa. Các hợp chất vô cơ ít độc hơn so với hợp chất hữu cơ của thủy ngân. Cho dù ít độc hơn so với các hợp chất của nó nhưng thủy ngân vẫn tạo ra sự ô nhiễm đáng kể đối với môi trường vì nó tạo ra các hợp chất hữu cơ trong các cơ thể sinh vật.
- Chứng bệnh Minamata là một dạng ngộ độc thủy ngân. Thủy ngân tấn công hệ thần kinh trung ương và hệ nội tiết và ảnh hưởng tới miệng, các cơ quai hàm và răng. Sự phơi nhiễm kéo dài gây ra các tổn thương não và gây tử vong. Nó có thể gây ra các rủi ro hay khuyết tật đối với các thai nhi. Không khí ở nhiệt độ phòng có thể bão hòa hơi thủy ngân cao hơn nhiều lần so với mức cho phép, cho dù nhiệt độ sôi của thủy ngân là không thấp.
- Một trong những hợp chất độc nhất của nó là đimêtyl thủy ngân, là độc đến đến mức chỉ vài micrôlít rơi vào da có thể gây tử vong. Một trong những mục tiêu chính của các chất độc này là enzym pyruvat dehiđrôgenat (PDH). Enzym bị ức chế hoàn toàn bởi một vài hợp chất của thủy ngân, thành phần gốc acid lipoic của phức hợp đa enzym liên kết với các hợp chất đó rất bền và vì thế PDH bị ức chế.
9/ Một số ví dụ điển hình về NGỘ ĐỘC THỦY NGÂN:
- Ví dụ điển hình là thảm họa ô nhiễm ở vịnh Minamata của Nhật Bản, nơi bắt nguồn tên 1 loại bệnh gọi là Minamata. Các nghiên cứu từ khoảng năm 1956 đến 1960 cho thấy các triệu chứng bất thường (về thần kinh) được tìm thấy ở những người trong khu vực này, có thể từ nước thải công nghiệp có chứa methylmercury. Hơn 2.200 người bị phơi nhiễm và hơn 1.700 người chết. Điều này cuối cùng được chứng minh là do độc tính của methylmercury.
- Hay ở Mexico, Thủy ngân đã được sử dụng trong các loại kem bôi da, và sự kiên về kem gây ngộ độc thủy ngân hay còn gọi là “Crèma de Belleza-Manning.”
10/ Cảnh báo và quy định hiện hành về việc sử dụng thủy ngân.
- Thủy ngân cần được tiếp xúc một cách cực kỳ cẩn thận. Các đồ chứa thủy ngân phải đậy nắp chặt chẽ để tránh rò rỉ và bay hơi. Việc đốt nóng thủy ngân hay các hợp chất của nó phải tiến hành trong điều kiện thông gió tốt và người thực hiện phải đội mũ có bộ lọc khí. Ngoài ra, một số oxide có thể bị phân tích thành thủy ngân, nó có thể bay hơi ngay lập tức mà không để lại dấu vết.người tiếp xúc nên trang bị mặt nạ phòng độc,áo liền quần có mũ bằng nhựa(coverall suit),găng tay,kính bảo hộ,kính che mặt.
- Vì các ảnh hưởng tới sức khỏe trong phơi nhiễm thủy ngân, các ứng dụng thương mại và công nghiệp nói chung được điều tiết ở các nước công nghiệp. Tổ chức y tế thế giới (WHO), OSHA và NIOSH đều thống nhất rằng thủy ngân là nguy hiểm nghề nghiệp và đã thiết lập các giới hạn cụ thể cho các phơi nhiễm nghề nghiệp. Ở Mỹ, giới hạn thải ra môi trường được EPA quy định.
Tài liệu đọc và tham khảo:
- https://gacsach.com/doc-online/114490/29-nuoc-bac-hg.html
- https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%A7y_ng%C3%A2n
- https://yhoccongdong.com/thongtin/kien-thuc-co-ban-ve-ngo-doc-thuy-ngan/
Cảm ơn thầy và các bạn đã cùng đọc và tìm hiểu cùng mình về KIM LOẠI ĐẶC BIỆT NÀY.
Nhờ bạn mà mình biết thêm những kiến thức mới mà mình chưa từng biết về KIM LOẠI THỦY NGÂN
Quote from Lâm Gia Linh on 03/09/2021, 23:24Riêng bản thân em ấn tượng nhất về Kim Loại Thủy Ngân. Thì như kiến thức THPT thì chắc hẳn ai trong chúng ta cũng điều biết rằng Thủy Ngân là kim loại duy nhất và đặc biệt nhất ở thể lỏng ở điều kiện thường? Vậy tại sao lại như vậy? Nguyên Tố Đặc Biệt này tạo sao nó lại khác biệt đến vậy? Và ứng dụng của nó trong cuộc sống ngày nay là gì?
Thì sau khi đọc "quyển sách số 29" của thầy và em có tìm hiểu thêm trên các diễn đàn Hóa Học thì em có một cách nhìn thực tế hơn về kim loại THỦY NGÂN và cụ thể là:
1/ Thủy Ngân có tên tiếng anh là Mercury(cùng tên với SAO THỦY là hành tinh nhỏ nhất và gần Mặt Trời nhất trong tám hành tinh thuộc Hệ Mặt Trời). Thủy Ngân là nguyên tố kim loại duy nhất ở dạng lỏng ở điều kiện tiêu chuẩn về nhiệt độ và áp suất; yếu tố duy nhất khác là chất lỏng trong các điều kiện này là halogen bromua, mặc dù các kim loại như xêzi, galli và rubidi tan chảy ngay trên nhiệt độ phòng. Thủy ngân là chất lỏng nặng nhất trong tất cả mọi chất lỏng mà người ta đã biết: mật độ của nó bằng 13,6 gam trên một xentimét khối. Điều đó có nghĩa là một lít thủy ngân nặng hơn một xô nước. Nếu một lực sĩ cử tạ nào đó không đặt quả tạ trên sàn mà thả vào một bể thủy ngân thì quả tạ rất nặng ấy sẽ không chìm mà cứ nổi bồng bềnh trên bề mặt kim loại này, giống như cái nút bấc trong nước vậy, bởi vì sắt nhẹ hơn thủy ngân rất nhiều.
2/ Thủy ngân và đối thể của nó là vonfram, chúng ta có thể thấy rõ rằng, tính chất của các kim loại thay đổi trong một khoảng rất rộng. Nếu vonfram nóng chảy ở 3410 độ C (để dễ hình dung, các bạn hay so sánh nhiệt độ của ngọn lửa trong khoang làm việc của lò Mactanh ngay cả ở tiêu điểm cháy cũng không quá 2000 độ C), thì thủy ngân ngay cả khi giá rét kinh khủng cứ vẫn ở thể lỏng và chỉ đông đặc ở - 38,9 độ C. Như các bạn thấy đấy, tuy thủy ngân và vonfram đều thuộc đại gia đình các kim loại, nhưng chúng là những kẻ “họ hàng xa” với nhau.
3/ Trong sách vở cũ có mô tả những trường hợp khi bị xoắn ruột, người ta rót một lượng thủy ngân nào đó (chừng 200 gam đến 250 gam) vào dạ dày người bệnh. Theo ý kiến của các vị thầy thuốc thời xưa từng sử dụng phương pháp điều trị này thì nhờ có tỉ trọng lớn và tính cơ động cao, thủy ngân có thể luồn lách vào những đoạn ruột quanh co để sửa nắn lại các đoạn ruột bị xoắn. Nhưng ở thời đại chúng ta, chứng xoắn ruột được chữa bằng những phương pháp khác bảo đảm hơn, nhưng hiện nay, các hợp chất của thủy ngân vẫn được sử dụng rộng rãi trong y học, chẳng hạn, thủy ngân (II) clorua (HgCl2) có các tính chất sát trùng; calomen (Hg2Cl2) được dùng làm thuốc xổ; mercuzan được dùng làm thuốc thông tiểu tiện; một số thuốc mỡ chứa thủy ngân được dùng làm thuốc chữa bệnh ngoài da và một số bệnh khác.
4/ Trong Y HỌC HIỆN ĐẠI Thủy Ngân được dùng làm thuốc và các thiết bị chứa thủy ngân tiềm ẩn nhiều nguy hiểm, mặc dù chúng đã được sử dụng rộng rãi trong quá khứ. Nhiệt kế và huyết áp kế chứa thủy ngân đã được phát minh trong thế kỷ XVIII và XIX, trong đầu thế kỷ XXI, việc sử dụng chúng đã giảm và bị cấm ở một số quốc gia, khu vực và trường đại học. Năm 2002, Thượng viện Mỹ đã thông qua sắc luật cấm bán nhiệt kế thủy ngân không theo đơn thuốc. Năm 2003, Washington và Maine trở thành các bang đầu tiên cấm các thiết bị đo huyết áp có chứa thủy ngân. Năm 2005, các hợp chất thủy ngân được tìm thấy ở một số dược phẩm quá mức cho phép, ví dụ các chất tẩy trùng cục bộ, thuốc nhuận tràng, thuốc mỡ trên tã chống hăm, các thuốc nhỏ mắt hay xịt mũi. Cục quản lý thuốc và thực phẩm (FDA) có "dữ liệu không đủ để thiết lập sự thừa nhận chung về tính an toàn và hiệu quả" của thành phần thủy ngân trong các sản phẩm này.
5/ Trong KỸ THUẬT, thủy ngân ở dạng tinh khiết cũng được sử dụng rộng rãi. Chẳng hạn, trong công nghiệp hóa học, nó tham gia quá trình sản xuất khí clo, xút ăn da, axit axetic tổng hợp. Van thủy ngân dùng để chỉnh lưu dòng điện xoay chiều, vừa bền vừa rất bảo đảm. Các khí cụ đo lường và tự động điều khiển được lắp công tắc thủy ngân: chúng bảo đảm việc đóng và ngắt mạch điện một cách tức thời. Đèn thủy ngân - thạch anh tạo ra bức xạ tử ngoài rất mạnh: trong y học, loại đèn này được sử dụng để khử trùng không khí trong phòng mổ, để chiếu rọi cơ thể người với mục đích chữa bệnh.
6/ Thủy ngân được sử dụng trong nhiệt kế, áp kế, áp suất kế, huyết áp kế, van phao, công tắc thủy ngân, rơle thủy ngân, đèn huỳnh quang và các thiết bị khác, mặc dù những lo ngại về độc tính của nguyên tố này đã dẫn đến nhiệt kế thủy ngân và máy đo huyết áp bị loại bỏ trong môi trường lâm sàng. lựa chọn thay thế bằng rượu hoặc galinstan trong các nhiệt kế thủy tinh và thermistor - hoặc công cụ điện tử hồng ngoại dựa trên. Tương tự như vậy, đồng hồ đo áp suất cơ học và cảm biến đo biến dạng điện tử đã thay thế máy đo huyết áp thủy ngân.
7/ Thủy ngân vẫn được sử dụng trong các ứng dụng nghiên cứu khoa học và trong amalgam để phục hồi răng ở một số địa phương. Nó cũng được sử dụng trong đèn huỳnh quang. Điện truyền qua hơi thủy ngân trong đèn huỳnh quang tạo ra tia cực tím sóng ngắn, sau đó làm cho phosphor trong ống đèn phát huỳnh quang, tạo ra ánh sáng nhìn thấy được.
8/ Tuy nhiều ứng dụng trong cuộc sống và trong Y HỌC như ta không thể phủ nhận rằng: :THỦY NGÂN LÀ KIM LOẠI ĐỘC THẬM CHÍ LÀ RẤT ĐỘC.
- Nhiễm độc thủy ngân có thể xảy ra do tiếp xúc với các dạng thủy ngân tan trong nước (như chloride thủy ngân hoặc methylmercury), do hít phải hơi thủy ngân hoặc ăn bất kỳ dạng thủy ngân nào.
- Thủy ngân là chất độc tích lũy sinh học rất dễ dàng hấp thụ qua da, các cơ quan hô hấp và tiêu hóa. Các hợp chất vô cơ ít độc hơn so với hợp chất hữu cơ của thủy ngân. Cho dù ít độc hơn so với các hợp chất của nó nhưng thủy ngân vẫn tạo ra sự ô nhiễm đáng kể đối với môi trường vì nó tạo ra các hợp chất hữu cơ trong các cơ thể sinh vật.
- Chứng bệnh Minamata là một dạng ngộ độc thủy ngân. Thủy ngân tấn công hệ thần kinh trung ương và hệ nội tiết và ảnh hưởng tới miệng, các cơ quai hàm và răng. Sự phơi nhiễm kéo dài gây ra các tổn thương não và gây tử vong. Nó có thể gây ra các rủi ro hay khuyết tật đối với các thai nhi. Không khí ở nhiệt độ phòng có thể bão hòa hơi thủy ngân cao hơn nhiều lần so với mức cho phép, cho dù nhiệt độ sôi của thủy ngân là không thấp.
- Một trong những hợp chất độc nhất của nó là đimêtyl thủy ngân, là độc đến đến mức chỉ vài micrôlít rơi vào da có thể gây tử vong. Một trong những mục tiêu chính của các chất độc này là enzym pyruvat dehiđrôgenat (PDH). Enzym bị ức chế hoàn toàn bởi một vài hợp chất của thủy ngân, thành phần gốc acid lipoic của phức hợp đa enzym liên kết với các hợp chất đó rất bền và vì thế PDH bị ức chế.
9/ Một số ví dụ điển hình về NGỘ ĐỘC THỦY NGÂN:
- Ví dụ điển hình là thảm họa ô nhiễm ở vịnh Minamata của Nhật Bản, nơi bắt nguồn tên 1 loại bệnh gọi là Minamata. Các nghiên cứu từ khoảng năm 1956 đến 1960 cho thấy các triệu chứng bất thường (về thần kinh) được tìm thấy ở những người trong khu vực này, có thể từ nước thải công nghiệp có chứa methylmercury. Hơn 2.200 người bị phơi nhiễm và hơn 1.700 người chết. Điều này cuối cùng được chứng minh là do độc tính của methylmercury.
- Hay ở Mexico, Thủy ngân đã được sử dụng trong các loại kem bôi da, và sự kiên về kem gây ngộ độc thủy ngân hay còn gọi là “Crèma de Belleza-Manning.”
10/ Cảnh báo và quy định hiện hành về việc sử dụng thủy ngân.
- Thủy ngân cần được tiếp xúc một cách cực kỳ cẩn thận. Các đồ chứa thủy ngân phải đậy nắp chặt chẽ để tránh rò rỉ và bay hơi. Việc đốt nóng thủy ngân hay các hợp chất của nó phải tiến hành trong điều kiện thông gió tốt và người thực hiện phải đội mũ có bộ lọc khí. Ngoài ra, một số oxide có thể bị phân tích thành thủy ngân, nó có thể bay hơi ngay lập tức mà không để lại dấu vết.người tiếp xúc nên trang bị mặt nạ phòng độc,áo liền quần có mũ bằng nhựa(coverall suit),găng tay,kính bảo hộ,kính che mặt.
- Vì các ảnh hưởng tới sức khỏe trong phơi nhiễm thủy ngân, các ứng dụng thương mại và công nghiệp nói chung được điều tiết ở các nước công nghiệp. Tổ chức y tế thế giới (WHO), OSHA và NIOSH đều thống nhất rằng thủy ngân là nguy hiểm nghề nghiệp và đã thiết lập các giới hạn cụ thể cho các phơi nhiễm nghề nghiệp. Ở Mỹ, giới hạn thải ra môi trường được EPA quy định.
Tài liệu đọc và tham khảo:
- https://gacsach.com/doc-online/114490/29-nuoc-bac-hg.html
- https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%A7y_ng%C3%A2n
- https://yhoccongdong.com/thongtin/kien-thuc-co-ban-ve-ngo-doc-thuy-ngan/
Cảm ơn thầy và các bạn đã cùng đọc và tìm hiểu cùng mình về KIM LOẠI ĐẶC BIỆT NÀY.
Nhờ bạn mà mình biết thêm những kiến thức mới mà mình chưa từng biết về KIM LOẠI THỦY NGÂN
Quote from Lâm Gia Linh on 04/09/2021, 12:44Quote from Lý Quốc Thái on 04/09/2021, 12:30Mình xin cảm ơn về bài viết khá là hữu ích của bạn bởi nó giúp mình và cũng như tất cả mọi người ở đây phần nào có thể hiểu được về các tính chất chung của kim loại và những điều hay mà chúng ta chưa biết về chúng. Mình sẽ tìm và đọc quyển sách này. Sẵn đây mình xin nói về một kim loại hiếm nhất thế giới đang tăng giá phi mã đó chính là Rhodium.
Thì dành cho những ai chưa biết về Rhodium thì đây là một nguyên tố hóa học có ký hiệu Rh và số nguyên tử là 45, là một kim loại chuyển tiếp có màu trắng bạc, cứng và bền có hệ số phản xạ cao. Nhờ tính chất hóa học đặc biệt, Rhodium không bị ăn mòn và oxy hóa, ít bị mờ và trầy xước. Được phát hiện bởi William Hyde Wollaston vào năm 1803, Rhodium thuộc nhóm kim loại quý giá đắt tiền nhất thế giới bởi độ hiếm, hiện kim loại này đang tăng rất mạnh.
Rhodium được coi là kim loại quý hiếm nhất và có giá trị nhất trên thế giới - hơn rất nhiều so với vàng hoặc bạch kim. Thời điểm tháng 3/2021, giá rhodium tăng lên tới 29.200 USD/ounce, so với mức 16.990 USD hôm 31/12/2020. Nếu tính từ ngày 1/1/2021, giá Rhodium hiện tăng khoảng 72%. Với mức giá này, rhodium đắt gấp 17 lần vàng, gấp 12 lần palađi và gấp 25 lần bạch kim.
Công dụng chính của kim loại này là sử dụng trong bộ chuyển đổi xúc tác (có thể gọi là bộ xử lý khí thải) - một bộ phận củ a hệ thống khí thải của xe ô tô để giảm lượng khí thải độc hại và các chất ô nhiễm ra môi trường.
Rhodi nguồn gốc tự nhiên chỉ chứa một đồng vị (Rh103). Các đồng vị phóng xạ ổn định nhất là Rh101 với chu kỳ bán rã 3,3 năm, Rh102 (207 ngày), Rh102m (2,9 năm) và Rh99 (16,1 ngày). Hai mươi đồng vị phóng xạ khác cũng đã được nêu đặc trưng, với nguyên tử lượng trong khoảng từ 92,926 (Rh93) tới 116,925 (Rh117). Phần lớn trong số này có chu kỳ bán rã nhỏ hơn 1 giờ, ngoại trừ Rh100 (20,8 giờ) và Rh105 (35,36 giờ). Nó cũng có một số đồng phân hạt nhân ổn định nhất là Rh102m (0,141 MeV, 207 ngày) và Rh101m (0,157 MeV, 4,34 ngày).
Trong tự nhiên, Rhodium không tồn tại ở dạng nguyên chất, nó được tìm thấy pha lẫn các chất khác trong quặng platinum hay niken với số lượng rất ít.
Cách bảo quản trang sức mạ Rhodium
Các bạn có thể dùng các cách sau đây để tối ưu tuổi thọ trang sức mạ Rhodium:
- Làm sạch trang sức bằng dung dịch bao gồm một ít nước và dầu gội đầu dạng lỏng, nhẹ.
- Không dùng hóa chất tẩy rửa mạnh để làm sạch bề mặt xi mạ Rhodium.
- Không nên sử dụng các loại vải đánh bóng dùng cho trang sức vàng, bạc để lau trang sức mạ Rhodium.
- Không đeo trang sức khi trang điểm hoặc xịt nước hoa.
- Nếu trang sức bị dính phấn trang điểm cần rửa sạch nhẹ nhàng bằng nước và cất trong hộp vải mềm.
- Tránh va chạm, tiếp xúc với bề mặt cứng thường xuyên.
- Nên dùng vải mềm, sợi nhỏ, không dùng vải thô cứng.
Một số tài liệu tham khảo :
https://eropi.com/news/rhodium-kim-loai-quy-gia-va-dat-tien-nhat-the-gioi
https://vi.wikipedia.org/wiki/Rhodi#:~:text=Rhodi%20(ti%E1%BA%BFng%20La%20tinh%3A%20Rhodium,l%C3%A0%20m%E1%BB%99t%20ch%E1%BA%A5t%20x%C3%BAc%20t%C3%A1c.
Cảm ơn thầy và các bạn đã đọc ạ.
Thông thường nghĩ đến kim loại quý chúng ta thường nghỉ đến Vàng, Bạc hoặc Bạch Kim. Nhờ bạn viết của bạn, mình biết thêm về Rhodium là kim loại quý giá đắt tiền nhất thế giới bởi độ hiếm của nó trong tự nhiên. Amazing!! Good Job.
Quote from Lý Quốc Thái on 04/09/2021, 12:30Mình xin cảm ơn về bài viết khá là hữu ích của bạn bởi nó giúp mình và cũng như tất cả mọi người ở đây phần nào có thể hiểu được về các tính chất chung của kim loại và những điều hay mà chúng ta chưa biết về chúng. Mình sẽ tìm và đọc quyển sách này. Sẵn đây mình xin nói về một kim loại hiếm nhất thế giới đang tăng giá phi mã đó chính là Rhodium.
Thì dành cho những ai chưa biết về Rhodium thì đây là một nguyên tố hóa học có ký hiệu Rh và số nguyên tử là 45, là một kim loại chuyển tiếp có màu trắng bạc, cứng và bền có hệ số phản xạ cao. Nhờ tính chất hóa học đặc biệt, Rhodium không bị ăn mòn và oxy hóa, ít bị mờ và trầy xước. Được phát hiện bởi William Hyde Wollaston vào năm 1803, Rhodium thuộc nhóm kim loại quý giá đắt tiền nhất thế giới bởi độ hiếm, hiện kim loại này đang tăng rất mạnh.
Rhodium được coi là kim loại quý hiếm nhất và có giá trị nhất trên thế giới - hơn rất nhiều so với vàng hoặc bạch kim. Thời điểm tháng 3/2021, giá rhodium tăng lên tới 29.200 USD/ounce, so với mức 16.990 USD hôm 31/12/2020. Nếu tính từ ngày 1/1/2021, giá Rhodium hiện tăng khoảng 72%. Với mức giá này, rhodium đắt gấp 17 lần vàng, gấp 12 lần palađi và gấp 25 lần bạch kim.
Công dụng chính của kim loại này là sử dụng trong bộ chuyển đổi xúc tác (có thể gọi là bộ xử lý khí thải) - một bộ phận củ a hệ thống khí thải của xe ô tô để giảm lượng khí thải độc hại và các chất ô nhiễm ra môi trường.
Rhodi nguồn gốc tự nhiên chỉ chứa một đồng vị (Rh103). Các đồng vị phóng xạ ổn định nhất là Rh101 với chu kỳ bán rã 3,3 năm, Rh102 (207 ngày), Rh102m (2,9 năm) và Rh99 (16,1 ngày). Hai mươi đồng vị phóng xạ khác cũng đã được nêu đặc trưng, với nguyên tử lượng trong khoảng từ 92,926 (Rh93) tới 116,925 (Rh117). Phần lớn trong số này có chu kỳ bán rã nhỏ hơn 1 giờ, ngoại trừ Rh100 (20,8 giờ) và Rh105 (35,36 giờ). Nó cũng có một số đồng phân hạt nhân ổn định nhất là Rh102m (0,141 MeV, 207 ngày) và Rh101m (0,157 MeV, 4,34 ngày).
Trong tự nhiên, Rhodium không tồn tại ở dạng nguyên chất, nó được tìm thấy pha lẫn các chất khác trong quặng platinum hay niken với số lượng rất ít.
Cách bảo quản trang sức mạ Rhodium
Các bạn có thể dùng các cách sau đây để tối ưu tuổi thọ trang sức mạ Rhodium:
- Làm sạch trang sức bằng dung dịch bao gồm một ít nước và dầu gội đầu dạng lỏng, nhẹ.
- Không dùng hóa chất tẩy rửa mạnh để làm sạch bề mặt xi mạ Rhodium.
- Không nên sử dụng các loại vải đánh bóng dùng cho trang sức vàng, bạc để lau trang sức mạ Rhodium.
- Không đeo trang sức khi trang điểm hoặc xịt nước hoa.
- Nếu trang sức bị dính phấn trang điểm cần rửa sạch nhẹ nhàng bằng nước và cất trong hộp vải mềm.
- Tránh va chạm, tiếp xúc với bề mặt cứng thường xuyên.
- Nên dùng vải mềm, sợi nhỏ, không dùng vải thô cứng.
Một số tài liệu tham khảo :
https://eropi.com/news/rhodium-kim-loai-quy-gia-va-dat-tien-nhat-the-gioi
Cảm ơn thầy và các bạn đã đọc ạ.
Thông thường nghĩ đến kim loại quý chúng ta thường nghỉ đến Vàng, Bạc hoặc Bạch Kim. Nhờ bạn viết của bạn, mình biết thêm về Rhodium là kim loại quý giá đắt tiền nhất thế giới bởi độ hiếm của nó trong tự nhiên. Amazing!! Good Job.
Quote from Lý Quốc Thái on 04/09/2021, 13:08Quote from Lâm Gia Linh on 03/09/2021, 23:24Riêng bản thân em ấn tượng nhất về Kim Loại Thủy Ngân. Thì như kiến thức THPT thì chắc hẳn ai trong chúng ta cũng điều biết rằng Thủy Ngân là kim loại duy nhất và đặc biệt nhất ở thể lỏng ở điều kiện thường? Vậy tại sao lại như vậy? Nguyên Tố Đặc Biệt này tạo sao nó lại khác biệt đến vậy? Và ứng dụng của nó trong cuộc sống ngày nay là gì?
Thì sau khi đọc "quyển sách số 29" của thầy và em có tìm hiểu thêm trên các diễn đàn Hóa Học thì em có một cách nhìn thực tế hơn về kim loại THỦY NGÂN và cụ thể là:
1/ Thủy Ngân có tên tiếng anh là Mercury(cùng tên với SAO THỦY là hành tinh nhỏ nhất và gần Mặt Trời nhất trong tám hành tinh thuộc Hệ Mặt Trời). Thủy Ngân là nguyên tố kim loại duy nhất ở dạng lỏng ở điều kiện tiêu chuẩn về nhiệt độ và áp suất; yếu tố duy nhất khác là chất lỏng trong các điều kiện này là halogen bromua, mặc dù các kim loại như xêzi, galli và rubidi tan chảy ngay trên nhiệt độ phòng. Thủy ngân là chất lỏng nặng nhất trong tất cả mọi chất lỏng mà người ta đã biết: mật độ của nó bằng 13,6 gam trên một xentimét khối. Điều đó có nghĩa là một lít thủy ngân nặng hơn một xô nước. Nếu một lực sĩ cử tạ nào đó không đặt quả tạ trên sàn mà thả vào một bể thủy ngân thì quả tạ rất nặng ấy sẽ không chìm mà cứ nổi bồng bềnh trên bề mặt kim loại này, giống như cái nút bấc trong nước vậy, bởi vì sắt nhẹ hơn thủy ngân rất nhiều.
2/ Thủy ngân và đối thể của nó là vonfram, chúng ta có thể thấy rõ rằng, tính chất của các kim loại thay đổi trong một khoảng rất rộng. Nếu vonfram nóng chảy ở 3410 độ C (để dễ hình dung, các bạn hay so sánh nhiệt độ của ngọn lửa trong khoang làm việc của lò Mactanh ngay cả ở tiêu điểm cháy cũng không quá 2000 độ C), thì thủy ngân ngay cả khi giá rét kinh khủng cứ vẫn ở thể lỏng và chỉ đông đặc ở - 38,9 độ C. Như các bạn thấy đấy, tuy thủy ngân và vonfram đều thuộc đại gia đình các kim loại, nhưng chúng là những kẻ “họ hàng xa” với nhau.
3/ Trong sách vở cũ có mô tả những trường hợp khi bị xoắn ruột, người ta rót một lượng thủy ngân nào đó (chừng 200 gam đến 250 gam) vào dạ dày người bệnh. Theo ý kiến của các vị thầy thuốc thời xưa từng sử dụng phương pháp điều trị này thì nhờ có tỉ trọng lớn và tính cơ động cao, thủy ngân có thể luồn lách vào những đoạn ruột quanh co để sửa nắn lại các đoạn ruột bị xoắn. Nhưng ở thời đại chúng ta, chứng xoắn ruột được chữa bằng những phương pháp khác bảo đảm hơn, nhưng hiện nay, các hợp chất của thủy ngân vẫn được sử dụng rộng rãi trong y học, chẳng hạn, thủy ngân (II) clorua (HgCl2) có các tính chất sát trùng; calomen (Hg2Cl2) được dùng làm thuốc xổ; mercuzan được dùng làm thuốc thông tiểu tiện; một số thuốc mỡ chứa thủy ngân được dùng làm thuốc chữa bệnh ngoài da và một số bệnh khác.
4/ Trong Y HỌC HIỆN ĐẠI Thủy Ngân được dùng làm thuốc và các thiết bị chứa thủy ngân tiềm ẩn nhiều nguy hiểm, mặc dù chúng đã được sử dụng rộng rãi trong quá khứ. Nhiệt kế và huyết áp kế chứa thủy ngân đã được phát minh trong thế kỷ XVIII và XIX, trong đầu thế kỷ XXI, việc sử dụng chúng đã giảm và bị cấm ở một số quốc gia, khu vực và trường đại học. Năm 2002, Thượng viện Mỹ đã thông qua sắc luật cấm bán nhiệt kế thủy ngân không theo đơn thuốc. Năm 2003, Washington và Maine trở thành các bang đầu tiên cấm các thiết bị đo huyết áp có chứa thủy ngân. Năm 2005, các hợp chất thủy ngân được tìm thấy ở một số dược phẩm quá mức cho phép, ví dụ các chất tẩy trùng cục bộ, thuốc nhuận tràng, thuốc mỡ trên tã chống hăm, các thuốc nhỏ mắt hay xịt mũi. Cục quản lý thuốc và thực phẩm (FDA) có "dữ liệu không đủ để thiết lập sự thừa nhận chung về tính an toàn và hiệu quả" của thành phần thủy ngân trong các sản phẩm này.
5/ Trong KỸ THUẬT, thủy ngân ở dạng tinh khiết cũng được sử dụng rộng rãi. Chẳng hạn, trong công nghiệp hóa học, nó tham gia quá trình sản xuất khí clo, xút ăn da, axit axetic tổng hợp. Van thủy ngân dùng để chỉnh lưu dòng điện xoay chiều, vừa bền vừa rất bảo đảm. Các khí cụ đo lường và tự động điều khiển được lắp công tắc thủy ngân: chúng bảo đảm việc đóng và ngắt mạch điện một cách tức thời. Đèn thủy ngân - thạch anh tạo ra bức xạ tử ngoài rất mạnh: trong y học, loại đèn này được sử dụng để khử trùng không khí trong phòng mổ, để chiếu rọi cơ thể người với mục đích chữa bệnh.
6/ Thủy ngân được sử dụng trong nhiệt kế, áp kế, áp suất kế, huyết áp kế, van phao, công tắc thủy ngân, rơle thủy ngân, đèn huỳnh quang và các thiết bị khác, mặc dù những lo ngại về độc tính của nguyên tố này đã dẫn đến nhiệt kế thủy ngân và máy đo huyết áp bị loại bỏ trong môi trường lâm sàng. lựa chọn thay thế bằng rượu hoặc galinstan trong các nhiệt kế thủy tinh và thermistor - hoặc công cụ điện tử hồng ngoại dựa trên. Tương tự như vậy, đồng hồ đo áp suất cơ học và cảm biến đo biến dạng điện tử đã thay thế máy đo huyết áp thủy ngân.
7/ Thủy ngân vẫn được sử dụng trong các ứng dụng nghiên cứu khoa học và trong amalgam để phục hồi răng ở một số địa phương. Nó cũng được sử dụng trong đèn huỳnh quang. Điện truyền qua hơi thủy ngân trong đèn huỳnh quang tạo ra tia cực tím sóng ngắn, sau đó làm cho phosphor trong ống đèn phát huỳnh quang, tạo ra ánh sáng nhìn thấy được.
8/ Tuy nhiều ứng dụng trong cuộc sống và trong Y HỌC như ta không thể phủ nhận rằng: :THỦY NGÂN LÀ KIM LOẠI ĐỘC THẬM CHÍ LÀ RẤT ĐỘC.
- Nhiễm độc thủy ngân có thể xảy ra do tiếp xúc với các dạng thủy ngân tan trong nước (như chloride thủy ngân hoặc methylmercury), do hít phải hơi thủy ngân hoặc ăn bất kỳ dạng thủy ngân nào.
- Thủy ngân là chất độc tích lũy sinh học rất dễ dàng hấp thụ qua da, các cơ quan hô hấp và tiêu hóa. Các hợp chất vô cơ ít độc hơn so với hợp chất hữu cơ của thủy ngân. Cho dù ít độc hơn so với các hợp chất của nó nhưng thủy ngân vẫn tạo ra sự ô nhiễm đáng kể đối với môi trường vì nó tạo ra các hợp chất hữu cơ trong các cơ thể sinh vật.
- Chứng bệnh Minamata là một dạng ngộ độc thủy ngân. Thủy ngân tấn công hệ thần kinh trung ương và hệ nội tiết và ảnh hưởng tới miệng, các cơ quai hàm và răng. Sự phơi nhiễm kéo dài gây ra các tổn thương não và gây tử vong. Nó có thể gây ra các rủi ro hay khuyết tật đối với các thai nhi. Không khí ở nhiệt độ phòng có thể bão hòa hơi thủy ngân cao hơn nhiều lần so với mức cho phép, cho dù nhiệt độ sôi của thủy ngân là không thấp.
- Một trong những hợp chất độc nhất của nó là đimêtyl thủy ngân, là độc đến đến mức chỉ vài micrôlít rơi vào da có thể gây tử vong. Một trong những mục tiêu chính của các chất độc này là enzym pyruvat dehiđrôgenat (PDH). Enzym bị ức chế hoàn toàn bởi một vài hợp chất của thủy ngân, thành phần gốc acid lipoic của phức hợp đa enzym liên kết với các hợp chất đó rất bền và vì thế PDH bị ức chế.
9/ Một số ví dụ điển hình về NGỘ ĐỘC THỦY NGÂN:
- Ví dụ điển hình là thảm họa ô nhiễm ở vịnh Minamata của Nhật Bản, nơi bắt nguồn tên 1 loại bệnh gọi là Minamata. Các nghiên cứu từ khoảng năm 1956 đến 1960 cho thấy các triệu chứng bất thường (về thần kinh) được tìm thấy ở những người trong khu vực này, có thể từ nước thải công nghiệp có chứa methylmercury. Hơn 2.200 người bị phơi nhiễm và hơn 1.700 người chết. Điều này cuối cùng được chứng minh là do độc tính của methylmercury.
- Hay ở Mexico, Thủy ngân đã được sử dụng trong các loại kem bôi da, và sự kiên về kem gây ngộ độc thủy ngân hay còn gọi là “Crèma de Belleza-Manning.”
10/ Cảnh báo và quy định hiện hành về việc sử dụng thủy ngân.
- Thủy ngân cần được tiếp xúc một cách cực kỳ cẩn thận. Các đồ chứa thủy ngân phải đậy nắp chặt chẽ để tránh rò rỉ và bay hơi. Việc đốt nóng thủy ngân hay các hợp chất của nó phải tiến hành trong điều kiện thông gió tốt và người thực hiện phải đội mũ có bộ lọc khí. Ngoài ra, một số oxide có thể bị phân tích thành thủy ngân, nó có thể bay hơi ngay lập tức mà không để lại dấu vết.người tiếp xúc nên trang bị mặt nạ phòng độc,áo liền quần có mũ bằng nhựa(coverall suit),găng tay,kính bảo hộ,kính che mặt.
- Vì các ảnh hưởng tới sức khỏe trong phơi nhiễm thủy ngân, các ứng dụng thương mại và công nghiệp nói chung được điều tiết ở các nước công nghiệp. Tổ chức y tế thế giới (WHO), OSHA và NIOSH đều thống nhất rằng thủy ngân là nguy hiểm nghề nghiệp và đã thiết lập các giới hạn cụ thể cho các phơi nhiễm nghề nghiệp. Ở Mỹ, giới hạn thải ra môi trường được EPA quy định.
Tài liệu đọc và tham khảo:
- https://gacsach.com/doc-online/114490/29-nuoc-bac-hg.html
- https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%A7y_ng%C3%A2n
- https://yhoccongdong.com/thongtin/kien-thuc-co-ban-ve-ngo-doc-thuy-ngan/
Cảm ơn thầy và các bạn đã cùng đọc và tìm hiểu cùng mình về KIM LOẠI ĐẶC BIỆT NÀY.
Mình xin cảm ơn về bài viết của bạn đã chia sẻ nhiều kiến thức hơn cho mọi người về kim loại Thủy Ngân. Bài viết rất hay và mong bạn sẽ giữ mãi nhiệt huyết như thế này nhé ! Congratulations.
Quote from Lâm Gia Linh on 03/09/2021, 23:24Riêng bản thân em ấn tượng nhất về Kim Loại Thủy Ngân. Thì như kiến thức THPT thì chắc hẳn ai trong chúng ta cũng điều biết rằng Thủy Ngân là kim loại duy nhất và đặc biệt nhất ở thể lỏng ở điều kiện thường? Vậy tại sao lại như vậy? Nguyên Tố Đặc Biệt này tạo sao nó lại khác biệt đến vậy? Và ứng dụng của nó trong cuộc sống ngày nay là gì?
Thì sau khi đọc "quyển sách số 29" của thầy và em có tìm hiểu thêm trên các diễn đàn Hóa Học thì em có một cách nhìn thực tế hơn về kim loại THỦY NGÂN và cụ thể là:
1/ Thủy Ngân có tên tiếng anh là Mercury(cùng tên với SAO THỦY là hành tinh nhỏ nhất và gần Mặt Trời nhất trong tám hành tinh thuộc Hệ Mặt Trời). Thủy Ngân là nguyên tố kim loại duy nhất ở dạng lỏng ở điều kiện tiêu chuẩn về nhiệt độ và áp suất; yếu tố duy nhất khác là chất lỏng trong các điều kiện này là halogen bromua, mặc dù các kim loại như xêzi, galli và rubidi tan chảy ngay trên nhiệt độ phòng. Thủy ngân là chất lỏng nặng nhất trong tất cả mọi chất lỏng mà người ta đã biết: mật độ của nó bằng 13,6 gam trên một xentimét khối. Điều đó có nghĩa là một lít thủy ngân nặng hơn một xô nước. Nếu một lực sĩ cử tạ nào đó không đặt quả tạ trên sàn mà thả vào một bể thủy ngân thì quả tạ rất nặng ấy sẽ không chìm mà cứ nổi bồng bềnh trên bề mặt kim loại này, giống như cái nút bấc trong nước vậy, bởi vì sắt nhẹ hơn thủy ngân rất nhiều.
2/ Thủy ngân và đối thể của nó là vonfram, chúng ta có thể thấy rõ rằng, tính chất của các kim loại thay đổi trong một khoảng rất rộng. Nếu vonfram nóng chảy ở 3410 độ C (để dễ hình dung, các bạn hay so sánh nhiệt độ của ngọn lửa trong khoang làm việc của lò Mactanh ngay cả ở tiêu điểm cháy cũng không quá 2000 độ C), thì thủy ngân ngay cả khi giá rét kinh khủng cứ vẫn ở thể lỏng và chỉ đông đặc ở - 38,9 độ C. Như các bạn thấy đấy, tuy thủy ngân và vonfram đều thuộc đại gia đình các kim loại, nhưng chúng là những kẻ “họ hàng xa” với nhau.
3/ Trong sách vở cũ có mô tả những trường hợp khi bị xoắn ruột, người ta rót một lượng thủy ngân nào đó (chừng 200 gam đến 250 gam) vào dạ dày người bệnh. Theo ý kiến của các vị thầy thuốc thời xưa từng sử dụng phương pháp điều trị này thì nhờ có tỉ trọng lớn và tính cơ động cao, thủy ngân có thể luồn lách vào những đoạn ruột quanh co để sửa nắn lại các đoạn ruột bị xoắn. Nhưng ở thời đại chúng ta, chứng xoắn ruột được chữa bằng những phương pháp khác bảo đảm hơn, nhưng hiện nay, các hợp chất của thủy ngân vẫn được sử dụng rộng rãi trong y học, chẳng hạn, thủy ngân (II) clorua (HgCl2) có các tính chất sát trùng; calomen (Hg2Cl2) được dùng làm thuốc xổ; mercuzan được dùng làm thuốc thông tiểu tiện; một số thuốc mỡ chứa thủy ngân được dùng làm thuốc chữa bệnh ngoài da và một số bệnh khác.
4/ Trong Y HỌC HIỆN ĐẠI Thủy Ngân được dùng làm thuốc và các thiết bị chứa thủy ngân tiềm ẩn nhiều nguy hiểm, mặc dù chúng đã được sử dụng rộng rãi trong quá khứ. Nhiệt kế và huyết áp kế chứa thủy ngân đã được phát minh trong thế kỷ XVIII và XIX, trong đầu thế kỷ XXI, việc sử dụng chúng đã giảm và bị cấm ở một số quốc gia, khu vực và trường đại học. Năm 2002, Thượng viện Mỹ đã thông qua sắc luật cấm bán nhiệt kế thủy ngân không theo đơn thuốc. Năm 2003, Washington và Maine trở thành các bang đầu tiên cấm các thiết bị đo huyết áp có chứa thủy ngân. Năm 2005, các hợp chất thủy ngân được tìm thấy ở một số dược phẩm quá mức cho phép, ví dụ các chất tẩy trùng cục bộ, thuốc nhuận tràng, thuốc mỡ trên tã chống hăm, các thuốc nhỏ mắt hay xịt mũi. Cục quản lý thuốc và thực phẩm (FDA) có "dữ liệu không đủ để thiết lập sự thừa nhận chung về tính an toàn và hiệu quả" của thành phần thủy ngân trong các sản phẩm này.
5/ Trong KỸ THUẬT, thủy ngân ở dạng tinh khiết cũng được sử dụng rộng rãi. Chẳng hạn, trong công nghiệp hóa học, nó tham gia quá trình sản xuất khí clo, xút ăn da, axit axetic tổng hợp. Van thủy ngân dùng để chỉnh lưu dòng điện xoay chiều, vừa bền vừa rất bảo đảm. Các khí cụ đo lường và tự động điều khiển được lắp công tắc thủy ngân: chúng bảo đảm việc đóng và ngắt mạch điện một cách tức thời. Đèn thủy ngân - thạch anh tạo ra bức xạ tử ngoài rất mạnh: trong y học, loại đèn này được sử dụng để khử trùng không khí trong phòng mổ, để chiếu rọi cơ thể người với mục đích chữa bệnh.
6/ Thủy ngân được sử dụng trong nhiệt kế, áp kế, áp suất kế, huyết áp kế, van phao, công tắc thủy ngân, rơle thủy ngân, đèn huỳnh quang và các thiết bị khác, mặc dù những lo ngại về độc tính của nguyên tố này đã dẫn đến nhiệt kế thủy ngân và máy đo huyết áp bị loại bỏ trong môi trường lâm sàng. lựa chọn thay thế bằng rượu hoặc galinstan trong các nhiệt kế thủy tinh và thermistor - hoặc công cụ điện tử hồng ngoại dựa trên. Tương tự như vậy, đồng hồ đo áp suất cơ học và cảm biến đo biến dạng điện tử đã thay thế máy đo huyết áp thủy ngân.
7/ Thủy ngân vẫn được sử dụng trong các ứng dụng nghiên cứu khoa học và trong amalgam để phục hồi răng ở một số địa phương. Nó cũng được sử dụng trong đèn huỳnh quang. Điện truyền qua hơi thủy ngân trong đèn huỳnh quang tạo ra tia cực tím sóng ngắn, sau đó làm cho phosphor trong ống đèn phát huỳnh quang, tạo ra ánh sáng nhìn thấy được.
8/ Tuy nhiều ứng dụng trong cuộc sống và trong Y HỌC như ta không thể phủ nhận rằng: :THỦY NGÂN LÀ KIM LOẠI ĐỘC THẬM CHÍ LÀ RẤT ĐỘC.
- Nhiễm độc thủy ngân có thể xảy ra do tiếp xúc với các dạng thủy ngân tan trong nước (như chloride thủy ngân hoặc methylmercury), do hít phải hơi thủy ngân hoặc ăn bất kỳ dạng thủy ngân nào.
- Thủy ngân là chất độc tích lũy sinh học rất dễ dàng hấp thụ qua da, các cơ quan hô hấp và tiêu hóa. Các hợp chất vô cơ ít độc hơn so với hợp chất hữu cơ của thủy ngân. Cho dù ít độc hơn so với các hợp chất của nó nhưng thủy ngân vẫn tạo ra sự ô nhiễm đáng kể đối với môi trường vì nó tạo ra các hợp chất hữu cơ trong các cơ thể sinh vật.
- Chứng bệnh Minamata là một dạng ngộ độc thủy ngân. Thủy ngân tấn công hệ thần kinh trung ương và hệ nội tiết và ảnh hưởng tới miệng, các cơ quai hàm và răng. Sự phơi nhiễm kéo dài gây ra các tổn thương não và gây tử vong. Nó có thể gây ra các rủi ro hay khuyết tật đối với các thai nhi. Không khí ở nhiệt độ phòng có thể bão hòa hơi thủy ngân cao hơn nhiều lần so với mức cho phép, cho dù nhiệt độ sôi của thủy ngân là không thấp.
- Một trong những hợp chất độc nhất của nó là đimêtyl thủy ngân, là độc đến đến mức chỉ vài micrôlít rơi vào da có thể gây tử vong. Một trong những mục tiêu chính của các chất độc này là enzym pyruvat dehiđrôgenat (PDH). Enzym bị ức chế hoàn toàn bởi một vài hợp chất của thủy ngân, thành phần gốc acid lipoic của phức hợp đa enzym liên kết với các hợp chất đó rất bền và vì thế PDH bị ức chế.
9/ Một số ví dụ điển hình về NGỘ ĐỘC THỦY NGÂN:
- Ví dụ điển hình là thảm họa ô nhiễm ở vịnh Minamata của Nhật Bản, nơi bắt nguồn tên 1 loại bệnh gọi là Minamata. Các nghiên cứu từ khoảng năm 1956 đến 1960 cho thấy các triệu chứng bất thường (về thần kinh) được tìm thấy ở những người trong khu vực này, có thể từ nước thải công nghiệp có chứa methylmercury. Hơn 2.200 người bị phơi nhiễm và hơn 1.700 người chết. Điều này cuối cùng được chứng minh là do độc tính của methylmercury.
- Hay ở Mexico, Thủy ngân đã được sử dụng trong các loại kem bôi da, và sự kiên về kem gây ngộ độc thủy ngân hay còn gọi là “Crèma de Belleza-Manning.”
10/ Cảnh báo và quy định hiện hành về việc sử dụng thủy ngân.
- Thủy ngân cần được tiếp xúc một cách cực kỳ cẩn thận. Các đồ chứa thủy ngân phải đậy nắp chặt chẽ để tránh rò rỉ và bay hơi. Việc đốt nóng thủy ngân hay các hợp chất của nó phải tiến hành trong điều kiện thông gió tốt và người thực hiện phải đội mũ có bộ lọc khí. Ngoài ra, một số oxide có thể bị phân tích thành thủy ngân, nó có thể bay hơi ngay lập tức mà không để lại dấu vết.người tiếp xúc nên trang bị mặt nạ phòng độc,áo liền quần có mũ bằng nhựa(coverall suit),găng tay,kính bảo hộ,kính che mặt.
- Vì các ảnh hưởng tới sức khỏe trong phơi nhiễm thủy ngân, các ứng dụng thương mại và công nghiệp nói chung được điều tiết ở các nước công nghiệp. Tổ chức y tế thế giới (WHO), OSHA và NIOSH đều thống nhất rằng thủy ngân là nguy hiểm nghề nghiệp và đã thiết lập các giới hạn cụ thể cho các phơi nhiễm nghề nghiệp. Ở Mỹ, giới hạn thải ra môi trường được EPA quy định.
Tài liệu đọc và tham khảo:
- https://gacsach.com/doc-online/114490/29-nuoc-bac-hg.html
- https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%A7y_ng%C3%A2n
- https://yhoccongdong.com/thongtin/kien-thuc-co-ban-ve-ngo-doc-thuy-ngan/
Cảm ơn thầy và các bạn đã cùng đọc và tìm hiểu cùng mình về KIM LOẠI ĐẶC BIỆT NÀY.
Mình xin cảm ơn về bài viết của bạn đã chia sẻ nhiều kiến thức hơn cho mọi người về kim loại Thủy Ngân. Bài viết rất hay và mong bạn sẽ giữ mãi nhiệt huyết như thế này nhé ! Congratulations.
Quote from Nguyễn Lê Tuấn Vinh on 04/09/2021, 18:36Kiến thức rất bổ ích ạ
Kiến thức rất bổ ích ạ
Quote from Cao Hoàng Minh Nghía on 04/09/2021, 19:57Cuốn sách rất hay ạ, nó cho em biết thêm nhiều kiến thức mới.
Cuốn sách rất hay ạ, nó cho em biết thêm nhiều kiến thức mới.
Quote from Lê Tiến Khánh on 05/09/2021, 05:50cuốn sách đc viết theo kiểu thật lôi cuốn ,nó kích thích sự tò mò của em
cuốn sách đc viết theo kiểu thật lôi cuốn ,nó kích thích sự tò mò của em
Quote from Di Di Thanh Thư on 26/09/2021, 22:53Tuy chưa đọc nhưng mình thấy có sức hút. Mình sẽ tìm hiểu về cuốn sách này. Thanks ad
Tuy chưa đọc nhưng mình thấy có sức hút. Mình sẽ tìm hiểu về cuốn sách này. Thanks ad
Quote from Từ Văn Phương on 04/10/2021, 21:35sách hay quá bạn cho nhiều kiến thức mới
sách hay quá bạn cho nhiều kiến thức mới
Quote from Lê Thái Hoàng on 13/12/2021, 21:08Chưa đọc nhưng sẽ đọc vì lời giới thiệu của bạn!
Chưa đọc nhưng sẽ đọc vì lời giới thiệu của bạn!
